Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ Đ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2024/HS-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoà

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Mai Phú

+ Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 276/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 284/2023/QĐXXST - HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn G, (tên gọi khác: Không), Sinh ngày 05 tháng 3 năm 1969, tại Bắc Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P131 Tập thể đại học Luật, tổ 19, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận C, Thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Nguyễn C, sinh năm: 1940 và bà: Trịnh Thị C, sinh năm: 1944; cùng trú tại: P131 Tập thể đại học Luật, tổ 19, Phường D, Quận C, Thành phố Hà Nội; gia đình có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1965, nhỏ nhất là bị cáo; vợ: Cao Thị H, sinh năm: 1981; con: có 02 con, sinh năm 1999 và năm 2005; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Tiền án, Tiền sự : Không.

Nhân thân:

- Ngày 21/02/1992, bị Tòa án nhân dân Quận H, Thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù giam về tội: Cướp tài sản của công dân; Tại bản án phúc thẩm số 117/HSPT ngày 11/4/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam, chấp hành án tại trại giam Phú Lương - Bộ Nội vụ xong ngày 18/12/1993 (BL: 139-145A).

- Ngày 18/7/1995, bị Tòa án nhân dân Quận Đ, TP Hà Nội xử phạt 48 tháng tù giam về tội: Cướp tài sản của Công dân. Ngày 26/12/1995, Tòa án nhân dân TP Hà Nội xử phúc thẩm y án bản án sơ thẩm, chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm - Bộ Nội vụ xong ngày 10/7/1998 (BL: 146-155).

Bị cáo bị bắt ngày 25/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1994; Hộ khẩu thường trú: Tổ 12, khu phố 5, thị trấn T, Bắc Tân U, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: Số 118/83/A3, đường Bạch Đằng, Phường 24, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị P, sinh năm 1993 Hộ khẩu thường trú: Số 13B, đường Nguyễn Lương B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Hiện đang tạm trú tại: 19, đường An Sơn, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn G, sinh năm: 1969, nơi thường trú: P131 tập thể Đại học luật, Dịch Vọng Hậu, Quận C, Thành phố Hà Nội là nhân viên bảo vệ và dắt xe của khách xếp gọn lại của quán cà phê Katinat tại địa chỉ: 27A đường 3 tháng 4, Phường C, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 23/12/2023, chị Bùi Thị Thuỳ A, sinh năm: 1994, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vison, màu xanh, biển số: 49E1-496.03 đến quán cà phê Katinat để uống cà phê. Khi đến nơi, chị Thuỳ A dựng xe ở tầng hầm rồi đi lên tầng để gọi nước và để quên 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB ở hộc phía trước cổ xe. Lúc này, Giang đến dắt xe của chị Thùy A thì phát hiện điện thoại để trong ngăn đựng đồ ở cổ xe nên Giang đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Thực hiện ý định, Giang lấy chiếc điện thoại cất giấu trong túi áo khoác rồi mang đến cất giấu dưới mũ bảo hiểm trên tủ của bảo vệ.

Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, chị Thùy Anh phát hiện để quên điện thoại nên chạy xuống tầng hầm kiểm tra thì không thấy điện thoại. Chị Thùy Anh hỏi thì Giang nói không biết ai lấy. Sau đó, chị Thùy Anh đi về nhà còn Giang khi hết ca làm việc thì mang điện thoại lấy trộm được về phòng trọ cất giấu.

Ngày 24/12/2023, chị Thùy Anh đến quán cà phê Katinat nhờ kiểm tra camera phát hiện người lấy trộm điện thoại của chị chính là Nguyễn Văn Giang nên đến Công an Phường 3, TP Đà Lạt trình báo sự việc. Tại cơ quan Công an Giang đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB đã trộm cắp (BL: 82, 124-132).

* Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ:

  • - 01 USB màu đen nhãn hiệu Son Dish loại 32Gb bên trong có 01 video dài 3 phút 07 giây ghi lại sự việc Nguyễn Văn Giang lấy trộm điện thoại tại bãi giữa xe quán cà phê Katinat, địa chỉ: 27A đường 3/4, Phường 3, TP Đà Lạt, Lâm Đồng.
  • - 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB, số Imei 352048882498325, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
  • - 01 điện thoại Oppo A92 màu đen, số Imei 860621056941232, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

* Bị hại: Bùi Thị Thùy A, sinh năm: 1994; nơi thường trú: Tổ 12, Khu phố 5, TT. Tân Thành, Bắc Tân Uyên, Bình D; nơi ở hiện tại: 118/83/A3 đường Bạch Đằng, Phường P, Quận Bình T, TP Hồ Chí Minh.

* Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 08/KL-HĐĐG ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Đà Lạt kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng trị giá là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng - BL: 33-36).

* Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 2064/QĐ-ĐTTH đối với chỉ bản của Nguyễn Văn Giang và chỉ bản thu thập được tại các hồ sơ lưu trữ trong quá trình xác minh tiền án, tiền sự của Nguyễn Văn Giang. Tại kết luận giám định số 681/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:

  • + Chỉ bản; lập ngày 25/12/2023 tại Công an thành phố Đà Lạt; họ tên: Nguyễn Văn Giang; sinh ngày 05/3/1969, Nơi cư trú: 131 Tập thể Đại học Luật, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy Hà Nội (ký hiệu A1);
  • + Chỉ bản số 9831; lập ngày 20/12/1991 tại Công an quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; họ tên: Hoàng Ngọc Tùng; sinh năm 1973; Nơi ĐKTT: 23 Đồng Nhân B, Bạch Đằng, Hà Nội (bản sao tài liệu lưu trữ) (ký hiệu A2);
  • + Chỉ bản số 905; lập ngày 11/01/1995 tại Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; họ tên: Nguyễn Văn G, sinh năm 1969, Nơi ĐKTT: T2 trường ĐH Luật, Láng Hạ, Đống Đa (bản sao tài liệu lưu trữ) (ký hiệu A3).

Kết luận: Dấu vân tay trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 là dấu vân tay của cùng một người (BL: 68, 69).

* Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số 2062/QĐ-ĐTTH đối với USB màu đen, hiệu SanDisk, loại 32GB do chị Võ Thị P cung cấp. Tại kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong File Video Clip gửi giám định (BL: 64,66).

Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 1617/QĐ-ĐTTH, trả lại cho chị Bùi Thị Thùy A 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB, số Imei 352048882498325, đã qua sử dụng. Chị Thùy A không có yêu cầu bồi thường gì (BL: 39, 41, 119, 120).

Tại bản cáo trạng số 279/CT-VKSĐL- LĐ ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và không khiếu nại gì bản cáo trạng.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 điện thoại Oppo A92 màu đen, số Imei 860621056941232, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: bị cáo đã ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn G: Nguyễn Văn G là nhân viên bảo vệ và dắt xe của khách của quán cà phê Katinat. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 23/12/2023, chị Bùi Thị Thuỳ A đến quán cà phê Katinat để uống cà phê. Khi đến nơi, chị Thuỳ Anh dựng xe ở tầng hầm rồi đi lên tầng để gọi nước và để quên 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB ở hộc phía trước cổ xe. Lúc này, Giang đến dắt xe của chị Thùy Anh thì phát hiện điện thoại để trong ngăn đựng đồ ở cổ xe nên Giang đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. Giang lấy chiếc điện thoại cất giấu trong túi áo khoác rồi mang đến cất giấu dưới mũ bảo hiểm trên tủ của bảo vệ. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, chị Thùy Anh phát hiện để quên điện thoại nên chạy xuống tầng hầm kiểm tra thì không thấy điện thoại. Chị Thùy Anh hỏi thì Giang nói không biết ai lấy. Sau đó, chị Thùy Anh đi về nhà còn Giang khi hết ca làm việc thì mang điện thoại lấy trộm được về phòng trọ cất giấu. Ngày 24/12/2023, chị Thùy Anh đến quán cà phê Katinat nhờ kiểm tra camera phát hiện người lấy trộm điện thoại của chị chính là Nguyễn Văn Giang nên đến Công an Phường 3, TP Đà Lạt trình báo sự việc. Tại cơ quan Công an Giang đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên và giao nộp chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB đã trộm cắp.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 08/KL-HĐĐG ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Đà Lạt kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng trị giá là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

[3] Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn G là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rất rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài của cá nhân. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo Giang đã thực hiện việc trộm tài sản. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Văn G phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 279/CT-VKSĐL- LĐ ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng.

Khi quyết định hình phạt có xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 21/02/1992, bị Tòa án nhân dân Quận H, TP Hà Nội xử phạt 36 tháng tù giam về tội: Cướp tài sản của công dân. Ngày 18/7/1995, bị Tòa án nhân dân Quận Đ, TP Hà Nội xử phạt 48 tháng tù giam về tội: Cướp tài sản của Công dân nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện một cách liều lĩnh, táo bạo, là hành vi nguy hiểm cho xã hội và thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến môi trường du lịch ở địa phương. Xét tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị lớn nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian dài để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, vì vậy không đề cập xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm có:

  • - Đối với 01 USB màu đen nhãn hiệu Son Dish loại 32Gb bên trong có 01 video dài 3 phút 07 giây ghi lại sự việc Nguyễn Văn G lấy trộm điện thoại tại bãi giữa xe quán cà phê Katinat. Hiện đang lưu vào hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu đen, dung lượng 256GB, số Imei 352048882498325, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Lạt ra Quyết định xử lý vật chứng số 1617/QĐ-ĐTTH, trả lại cho chị Bùi Thị Thùy Anh.
  • - Đối với 01 điện thoại Oppo A92 màu đen, số Imei 860621056941232, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của bị cáo. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam (25/7/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn G 01 điện thoại Oppo A92 màu đen, số Imei 860621056941232, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản sao bản án ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tp. Đ;
  • - Công an tp. Đ;
  • - Chi cục THADS tp. Đ;
  • - Bị cáo; người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 248/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo G trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger