Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2479/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/11/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1.Bà Bùi Thị Hòa Bình
  • 2.Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1040/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 807/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 679/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Anh D; đòa chæ: Số A Đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Trần Hạ V; đòa chæ: Căn hộ H Block D Chung cư M, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn, các bản tự khai, các biên bản tại Tòa án nguyên đơn là ông Trần Anh D trình bày:

Ông và và Trần Hạ V tự nguyện kết hôn năm 2017, giấy chứng nhận kết hôn số 146/2017 do Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/2017. Quá trình chung sống có 01 con chung là Trần Anh Thiên B sinh ngày 24/9/2020. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không còn tiếng nói chung, ông và bà V đã sống ly thân từ năm 2022. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông D xin ly hôn với bà V để ổn định cuộc sống.Về con: Ông D xác nhận ông và bà V có 01 con chung là Trần Anh Thiên B sinh ngày 24/9/2020, hiện tại cháu đang ở cùng với ông, ông D xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con.Về tài sản chung và nợ chung: Ông D xin tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về án phí: Ông D nộp.Ngoài ra ông D không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn là bà Trần Hạ V: Bà V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà V không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ theo quy định tại các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D. Giao con chung cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng, ông D không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Ông D xin tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn phải đóng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bà Trần Hạ V hiện cư trú tại Căn hộ H Block D Chung cư M, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Hạ V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà V không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng và hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử vụ án.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ vợ chồng: Xét yêu cầu của ông Trần Anh D về việc xin ly hôn với bà Trần Hạ V, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số giấy chứng nhận kết hôn số 146/2017 do Ủy ban nhân dân Phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/2017 thì quan hệ hoân nhaân giữa Trần Anh D và bà Trần Hạ V là hợp pháp.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà V không tham gia hòa giải, không nộp tài liệu, chứng cứ và văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và không tham gia phiên tòa hôm nay điều đó cho thấy bà V không thiết tha hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng, chăm sóc con cái và xây dựng gia đình hạnh phúc. Hôn nhân phải trên cơ sở nam nữ tự nguyện thương yêu, xây dựng, vun đắp hạnh phúc gia đình nếu không thì việc duy trì hôn nhân giữa ông bà cũng chỉ là hình thức. Căn cứ Điều 19 của Luật hôn nhân và Gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” thì mục đích hôn nhân mới đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Anh D về việc xin ly hôn với bà Trần Hạ V là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu của ông Trần Anh D về việc xin được trực tiếp nuôi con là Trần Anh Thiên B sinh ngày 24/9/2020 và không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ bản sao khai sinh số 420 do ủy ban nhân dân Phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/12/2020 thì ông Trần Anh D và bà Trần Hạ V có 01 con chung là Trần Anh Thiên B sinh ngày 24/9/2020. Căn cứ kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 04/6/2024 của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì trẻ Trần Anh Thiên B sinh năm 2020 hiện đang ở cùng cha là ông Trần Anh D tại A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên ông D xin được nuôi con và đồng thời bà V cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con thì việc giao con cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông D tự nguyện không yêu cầu bà V cấp dưỡng, bà V cũng không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của ông D và không xem xét thêm.

[3.3] Về tài sản và nợ chung: Ông D xin tự giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà V không có ý kiến gì về tài sản. Do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của ông D và không xem xét thêm.

[3.4] Về án phí: Án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, ông D phải nộp.

Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng và phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật Thi hành án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trần Anh D.

1.1 Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Anh D được ly hôn với bà Trần Hạ V.

1.2 Về con chung: Giao trẻ Trần Anh Thiên B sinh ngày 24/9/2020 cho ông Trần Anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Anh D về việc không yêu cầu bà Trần Hạ V cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của ông Trần Anh D về việc xin tự giải quyết tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4 Về án phí: Án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, ông Trần Anh D phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0023797 ngày 15/05/2024 của Chi cục thi hành án quận Bình Thạnh. Ông D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh;
  • - UBND Phường 26, Q. Bình Thạnh;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2479/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 2479/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger