Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 247/2024/HS-ST

Ngày 28-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 244/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hà Phương T, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố H; nơi ở: B7/213/4A ấp B, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Quang V, sinh năm 1967 và bà Hà Thị S, sinh năm 1970; bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2003; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/3/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Đình H, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ A, khu phố F, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  2. Bà Hà Thị S, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  3. Bà Hồ Thị G, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, khu phố F, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2002, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hà Phương T và anh Lê Đình H, sinh năm: 2001; thường trú tại tổ A, khu phố F, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương là bạn bè quen biết từ năm 2020. Khoảng cuối tháng 11/2023, Trần Hà Phương T đến phòng trọ của anh H thuê tại địa chỉ 5 C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh B, ở nhờ để đi xin việc. Trong phòng trọ còn có anh Nguyễn Thanh V1, sinh năm 2001 (thường trú tại C ấp C, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh) ở cùng.

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 02/12/2023, T hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40 (viết tắt là xe mô tô biển số 61N1-205.40) của anh H để đi về nhà tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh dự sinh nhật của ba T, anh H đồng ý và giao xe mô tô biển số 61N1-205.40 cùng chìa khóa xe cho T, riêng giấy đăng ký xe thì anh H để sẵn trong cốp xe. Lúc này, anh V1 thấy T về nhà nên xin đi nhờ xe về xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi muợn được xe, T chở anh V1 về nhà V1 tại xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục điều khiển xe về nhà. Trên đường về thì có anh Nguyễn Thanh T1 sinh năm 1999, thường trú tại A ấp A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gọi điện thoại cho T để đòi khoản tiền T đã mượn T1 trước đó. Lúc này, T nảy sinh ý định mang xe mô tô biển số 61N1-205.40 của anh H đi cầm và lấy tiền trả cho anh T1. Để thực hiện ý định trên, T điều khiển xe mô tô biển số 61N1-205.40 đến tiệm cầm đồ 79, địa chỉ F đường N, khu phố T, huyện C, tỉnh Long An, do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988 (thường trú tại D ấp D, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh) làm chủ để cầm cố xe. Khi đến nơi, T gặp anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2002, HKTT tại thôn F, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, là nhân viên tiệm cầm đồ 79 và cầm xe Wave biển số 61N1-205.40 cùng giấy tờ xe với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Sau khi nhận được tiền, T liên hệ với anh T1 trả cho anh T1 số tiền nợ 6.000.000 đồng, mua 01 xe mô tô cũ (không nhớ rõ biển số) với giá 2.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại (T không nhớ mua ở đâu) và tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.000.000 đồng.

Ngày 04/12/2023 T điểu khiển xe mô tô không nhớ biển số (do T mua ngày 02/12/2023) đón V1 từ phường T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh về nhà anh H, khi đến nhà anh H, T mang giỏ xách quần áo mang theo bỏ trong nhà anh H, khi gặp anh H, anh H hỏi “Xe đâu?” thì T trả lời là “Xe bị hư” và anh H yêu cầu T lấy xe về trả cho anh H. Sau đó, do hết tiền tiêu xài nên T tiếp tục bán xe mô tô không nhớ biển số đã mua ngày 02/12/2023 và tiêu xài hết. Ngày 06/12/2023, T nhắn tin mesenger cho anh H nói là do kẹt tiền nên T đã cầm xe của anh H sau đó tắt máy điện thoại. Ngày 16/12/2023, T tiếp tục nhắn tin M cho anh H nói xe cầm ở tiệm cầm đồ 79 và giấy cầm đồ trong túi xách của T để trong nhà anh H, sau đó tắt điện thoại và bỏ trốn. Anh H kiểm tra túi xách của T phát hiện giấy cầm đồ nên mang đến Công an phường Đ, thành phố D trình báo sự việc.

Ngày 16/12/2023 Công an phường Đ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, tiến hành xác minh tin báo ban đầu. Do có dấu hiệu tội phạm, Công an phường Đ chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 02/BBĐG-HĐĐGTS ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự - UBND thành phố D, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282 trị giá 13.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282, dung tích xi lanh 109,1cm³.

Tại Cáo trạng số: 258/CT-VKS- DA ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Trần Hà Phương T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 9 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

* Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282, dung tích xi lanh 109,1cm³ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản cho anh H theo quyết định xử lý vật chứng số 69 ngày 05/01/2024.

* Anh Lê Đình H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Bà Hà Thị S là mẹ ruột của Trần Hà Phương T đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 10.000.000 đồng, anh H1 nhận tiền và không có yêu cầu gì về dân sự nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra. Số tiền bà S không yêu cầu T hoàn trả lại số tiền trên nên vấn đề dân sự không đặt ra.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 02/12/2023, Trần Hà Phương T mượn 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282, dung tích xi lanh 109,1cm³ của anh Lê Đình H, do thiếu tiền tiêu xài T không trả lại xe cho anh H mà mang xe đi cầm cố tại Tiệm cầm đồ 79 lấy số tiền 10.000.000 đồng để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Hành vi sau khi nhận tài sản (xe mô tô) của bị hại rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản có giá trị theo kết luận định giá 13.500.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 258/CT – VKS-DA ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trần Hà Phương T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
  3. [3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi nhận tài sản của bị hại rồi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
  4. [4] Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. [5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị cáo đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. [6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự và có nghề nghiệp ổn định.
  7. [7] Về hình phạt:
    • Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đồng thời trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến tình hình đấu tranh tội phạm tại địa phương, cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo nên cần hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 65/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo.
    • Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  8. [8] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282, dung tích xi lanh 109,1cm³ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản cho bị hại là đúng quy định.
  9. [9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đình H đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

    Bà Hà Thị S bồi thường cho anh H1 số tiền 10.000.000 đồng, anh H1 nhận tiền và không yêu cầu gì khác đồng thời bà S không yêu cầu bị cáo trả lại tiền nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

  10. [10] Đối với hành vi đồng ý nhận cầm cố 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển số 61N1-205.40, số máy JA39E2575259, số khung RLHJA3926NY078282, dung tích xi lanh 109,1cm³ với giá 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn N, anh N không biết xe mô tô trên do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là đúng quy định.

    Đối với anh Nguyễn Thanh T1 không biết số tiền 6.000.000 đồng Thanh trả cho T1 là tiền có được từ hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là đúng quy định.

  11. [11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp tuy nhiên để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và có thời gian tự rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật nên áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo.
  12. [12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Hà Phương T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
    • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NĐ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
    • Xử phạt bị cáo Trần Hà Phương T 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp bị cáo Trần Hà Phương T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Áp dụng Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 65/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trần Hà Phương T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (03);
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - THA hình sự (04);
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 247/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 247/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hà Phương Thanh bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger