Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Duyên

Bà Lò Thị Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 244/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn M; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1990, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T và con bà: Lò Thị N; Vợ: Quàng Thị Thanh D, Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào xét xử. Ngày 23/12/2021, Lò Văn M bị Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 787 về hành vi “Tàng trữ lâm sản trái pháp luật”, hình thức phạt tiền 10.000.000 đồng. Quá trình xác minh M không có điều kiện thi hành Quyết định trên. Ngày 24/12/2022 đã hết thời hiệu thi hành đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên, căn cứ Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đ, tỉnh Điện Biên:
  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi N1 - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
  1. Anh Lò Văn H - Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
  2. Anh Lường Văn B - Sinh năm: 1996; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
  3. Ông Lò Văn T1 - Sinh năm: 1964; Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thường xuyên đi vào khu vực rừng thuộc bản T, xã M, huyện Đ nên Lò Văn M biết trong rừng có một cây gỗ to ở khu vực ven suối Huổi Ban và một bên rễ của cây gỗ to này đã bị người khác cưa đứt nhưng không ảnh hưởng gì đến sự phát triển của cây. Thấy cây gỗ này đã có người có ý định khai thác nên M nảy sinh ý định khai thác cây gỗ đó về để đóng bàn ghế và đồ dùng gia đình. Khoảng 14 giờ ngày 10/01/2024, M một mình mang theo một dao nhọn, một máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna đi bộ lên vị trí cây gỗ tại khoảnh 11, tiểu khu G, địa phận khu rừng bản T, xã M, huyện Đ. Tại đây, M sử dụng máy cưa để cưa đổ cây về phía song song với suối Huổi B1. Cưa cây xong, M đi lấy cây chuối cho lợn sau đó về nhà. Ngày hôm sau, M tiếp tục một mình mang theo 01 dao nhọn; 01 máy cưa và 01 thước rút dài 05m đi lên khu vực cây gỗ bị khai thác để cắt cây gỗ ra thành những lóng, khúc gỗ phù hợp. Trong một buổi sáng, M cắt được 03 khúc rồi về nhà và gọi điện thoại cho Lò Văn H và Lường Văn B là người cùng bản với M, M thuê H và B giúp M kéo gỗ về với giá 250.000 đồng/ người/01 ngày được H và B đồng ý và hẹn đến ngày 14/01/2024 sẽ cùng đi kéo gỗ về. Từ ngày 14/01/2024 đến ngày 19/01/2024, M cùng H và B lên khu vực cây gỗ bị khai thác để xẻ gỗ và chuẩn bị vận chuyển gỗ ra khỏi khu vực khai thác. H và B được M phân công kê kích, bẩy gỗ còn M là người trực tiếp sử dụng cưa để xẻ gỗ, Mạnh xẻ được số gỗ gồm 32 lóng, khúc, thanh, tấm hộp có khối lượng: 12,552 m³; trong đó có 12 lóng, khúc gỗ tròn, khối lượng 7,924 m³; 20 thanh, tấm, hộp gỗ xẻ, khối lượng 4,628 m³, quy gỗ tròn bằng 7,404 m³, tổng gỗ tròn và gỗ xẻ quy tròn có khối lượng: 15,328 m³ sau đó cả ba về nhà nghỉ khoảng 03 ngày. Trong 03 ngày nghỉ, M mượn máy tời của ông Lò Văn T1, trú tại bản Huổi Hốc, xã T, huyện Đ đồng thời mua dụng cụ tự chế 02 trục bánh xe để vận chuyển gỗ. Từ ngày 22/01/2024 đến ngày 29/01/2024, M, H và B cùng đi phát dọn bụi cây cho quang và đào đất, làm đường vận chuyển gỗ ra khu vực đầu bản Na Khoang, xã M. Từ ngày 29/01/2024 đến ngày 03/02/2024, M, H và B đã sử dụng trục bánh xe có hàn khung sắt xếp gỗ lên trục xe và sử dụng máy tời để vận chuyển gỗ ra khỏi vị trí khai thác. M là người điều khiển máy tời còn H và B thì điều chỉnh trục bánh xe. M, H và B đã vận chuyển được 01 tấm và 03 hộp gỗ ra khỏi vị trí khai thác ban đầu, trong đó có 01 tấm gỗ vận chuyển đến khu vực suối và 03 hộp gỗ vận chuyển cách vị trí khai thác khoảng 100m. Hồi 15 giờ ngày 03/02/2024, khi M

đang dùng tời để kéo gỗ tại khu vực suối Huổi Ban, thuộc khoảnh 11, tiểu khu G, bản T, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác của Ủy ban nhân dân xã M phát hiện và lập biên bản sự việc đối với Lò Văn M.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 121/CNR-VP ngày 05/3/2024 của V rừng kết luận:

  • + Toàn bộ 30 mẫu vật gửi giám định cùng một chủng loại có Tên Việt Nam: Sấu; Tên Khoa học: D1
  • + Sấu (D1) là cây gỗ thuộc chi Sấu (D), họ Đào lộn hột (A).
  • + Loài S (D1) không có tên trong “Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; và không có trong “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ do vậy đây là các loài thông thường.
  • + Gỗ S1 (D1) được xếp nhóm VI trong “Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả nước” ban hành kèm theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 của Bộ L - nay là Bộ N2.

- Tại Bản kết luận giám định số 05/KL-GĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ kết luận: Khu vực có cây gỗ bị khai thác là rừng; Khu rừng có cây gỗ bị khai thác là rừng tự nhiên; loại rừng là rừng Phòng hộ; Vị trí có cây gỗ rừng bị khai thác thuộc khoảnh 11, tiểu khu G, địa phận khu rừng bản T, xã M, huyện Đ; Khu vực rừng có cây gỗ bị khai thác đã được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Đ quản lý, bảo vệ.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-ĐGTS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Hội đồng thẩm định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Gỗ tròn, số lượng 12 lóng, khúc, gỗ Sấu nhóm VI, khối lượng 7,924 m³ có giá: 69.889.680 đồng; Gỗ xẻ, số lượng 20 thanh, tấm, hộp; gỗ Sấu nhóm VI, khối lượng 4,628 m³ quy gỗ tròn bằng 7,404 m³ có giá 65.303.280 đồng. Tổng là 135.192.960 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Ngày 30/8/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 01 Máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna; 01 con dao nhọn; 01 máy tời tự chế,02 trục bánh xe tự chế, 01 con dao quắm; 01 cái cuốc; 01 cái xẻng và 9,992 m³ gỗ Sấu (hiện tại đang để ở kho lâm sản của Hạt Kiểm Lâm huyện Đ).

Bản cáo trạng số: 185/CT-VKSHĐB ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn M về tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn M với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 21/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Lò Văn M.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 9,992 m³ và 01 Máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna; 01 con dao nhọn; 01 con dao quắm; 01 cái cuốc; 01 cái xẻng; 02 trục bánh xe tự chế;
  • Trả lại cho ông Lò Văn T1 01 máy tời tự chế.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lò Văn M phải bồi thường sung Ngân sách Nhà Nước số tiền là: 135.192.960 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng. Buộc bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 120.192.960 đồng.
  • * Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.009.648 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đồng ý và không tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Lò Văn M khai nhận: Vào ngày 10/01/2024, tại khu vực rừng tự nhiên, loại rừng phòng hộ thuộc khoảnh 11, tiểu khu G, bản T, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Đ quản lý, bảo vệ, M đã có hành vi một mình sử dụng công cụ là 01 con dao quắm và 01 máy cưa xăng khai thác (cưa đổ) trái phép 01 cây gỗ Sấu là loài thực vật thông thường có khối lượng 15,328 m³ trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên ở khu vực xa dân cư, không có người qua lại. Trị giá 135.192.960 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, chín trăm sáu mươi đồng). Sau khi khai thác xong mới chuẩn bị công cụ, phương tiện và thuê người khác sơ chế và vận chuyển gỗ ra ngoài rừng. Mục đích của bị cáo là khai thác lấy gỗ làm vật dụng trong gia đình.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

... d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 15 mét khối (m3) đến dưới 30 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA”.

Bị cáo Lò Văn M là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn M về tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

  1. [2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi dùng cưa máy khai thác trái phép 01 cây gỗ Sấu là loài thực vật thông thường có khối lượng 15,328 m³, trị giá 135.192.960 đồng, với động cơ mục đích vụ lợi cá nhân của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và gây mất trật tự trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
  2. [3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Lò Văn M không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xâu bởi: Ngày 23/12/2021, Lò Văn M bị Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 787 về hành vi “Tàng trữ lâm sản

trái pháp luật”, hình thức phạt tiền 10.000.000 đồng. Quá trình xác minh M không có điều kiện thi hành Quyết định trên. Ngày 24/12/2022 đã hết thời hiệu thi hành đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên, căn cứ Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, tại nơi cư trú bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, có chính quyền địa phương xác nhận. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người dân tộc nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo là trụ cột trong gia đình và do nhu cầu phục vụ đời sống kinh tế gia đình (muốn có gỗ làm vật dụng trong gia đình) nên bị cáo đã thực hiện hành vi khai thác Gỗ nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả (bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng), ông nội của bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; Kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới; Giấy khen của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Ngoài ra, bị cáo còn được Ủy ban nhân dân xã M tặng thưởng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác Hội cựu chiến binh nhiệm kỳ 2017 - 2022 nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện được tự cải tạo, tu dưỡng rèn luyện tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, Theo quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại

phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. [4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [5] Về xử lý vật chứng: Ngày 05/02/2024 Hạt kiểm lâm huyện Đ đã tiến hành thu giữ của Lò Văn M 32 lóng, thanh, tấm hộp gỗ Sấu xẻ chưa quy gỗ tròn có khối lượng 12,552 m³, quy gỗ tròn 15,328 m³. Từ ngày 11/3/2024 đến ngày 25/3/2024, Hạt Kiểm lâm huyện Đ tiến hành sơ chế, pha cắt vật chứng để vận chuyển gỗ về kho vật chứng của Hạt Kiểm lâm huyện Đ bảo quản. Trong quá trình sơ chế, pha cắt và vận chuyển khối lượng gỗ bị giảm so với ban đầu chỉ còn 9,992 m³ (giảm 2,56 m³); số lượng các lóng, khúc, thanh, tấm hộp được pha cắt thành 65 lóng, khúc, thanh, tấm hộp. Ngày 31/5/2024 Hạt Kiểm Lâm huyện Đ chuyển 65 lóng, thanh, tấm hộp gỗ Sấu xẻ nhóm VI có khối lượng 9,992 m³. Sau khi tiếp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra thấy vật chứng đang để tại kho lâm sản của Hạt Kiểm Lâm huyện Đ có khối lượng nhiều. Hiện tại kho vật chứng của Công an huyện Đ không có chỗ để. Cơ quan điều tra và Hạt Kiểm Lâm huyện Đ thống nhất tại Biên bản làm việc 31/5/2024 là gửi lại số vật chứng nêu trên tại kho lâm sản Hạt K huyện Đ. Còn các vật chứng khác được dùng vào việc khai thác gỗ (01 Máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna; 01 con dao nhọn; 01 con dao quắm; 01 chiếc cuốc; 01 chiếc xẻng; 01 chiếc máy tời tự chế; 02 trục bánh xe tự chế) cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024.

Vì vậy, 65 thanh, tấm hộp gỗ Sấu xẻ nhóm VI có khối lượng là 9,992 m³ (hiện tại đang để ở kho lâm sản của Hạt Kiểm Lâm huyện Đ) và 01 Máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna; 01 con dao nhọn; 01 con dao quắm; 01 cái cuốc; 01 cái xẻng; 02 trục bánh xe tự chế (đã qua sử dụng); Hội đồng xét xử cần Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc máy tời tự chế mà bị cáo mượn của ông Lò Văn T1, ông T1 không biết việc bị cáo sử dụng máy tời vào việc phạm tội. Ông T1 cũng đã có đơn xin lại máy tời, vì vậy, Hội đồng xét xử cần tuyên trả lại cho ông T1 chiếc máy tời trên theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  1. [6] Về các vấn đề khác: Lò Văn H và Lường Văn B được bị cáo Lò Văn M thuê để vận chuyển gỗ sau khi đã thực hiện hành vi khai thác trái phép cây gỗ Sấu. Xét hành vi của H và B không đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định tại khoản 2 Điều 232 BLHS, ngày 25/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển hồ sơ liên quan

đến Hạt Kiểm lâm huyện Đ đề nghị xử lý hành chính đối với H và B theo quy định. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với H và B.

Đối với ông Lò Văn T1 là người cho bị cáo Lò Văn M mượn máy tời, ông T1 không biết việc bị cáo mượn máy tời để thực hiện hành vi pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với ông Lò Văn T1.

  1. [7] Về vấn đề dân sự trong vụ án: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Đ có đơn yêu cầu bị cáo Lò Văn M bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra với số tiền là 135.192.960 đồng. Ngày 27/8/2024, Lò Văn M đã tự nguyện khắc phục hậu quả số tiền 15.000.000 đồng, hình thức nộp tiền trực tiếp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên. Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp cho Nhà nước số tiền còn lại là: 120.192.960 đồng. Ngoài ra, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lò Văn H và Lường Văn B trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử không yêu cầu giải quyết số tiền bị cáo thuê xẻ gỗ và vận chuyển gỗ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  1. [8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.009.648 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lò Văn M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

  • * Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 21/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với Lò Văn M.
  • * Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
  • * Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 65 (Sáu mươi lăm) thanh, tấm hộp gỗ Sấu xẻ chưa quy gỗ Sấu, xẻ nhóm VI, có khối lượng là 9,992 m³ (Chín phẩy, chín trăm chín hai mét khối) theo khối lượng ban đầu Hạt Kiểm Lâm huyện Đ chuyển cho cơ quan điều tra Công an huyện Đ được đánh số từ 01 đến 65 tình trạng gỗ khô, nứt, nẻ, cong, vênh (Hiện tại đang để ở kho lâm sản của Hạt Kiểm Lâm huyện Đ, tỉnh Điện Biên).

Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu và Bảng kê lâm sản ngày 31/5/2024 của Hạt Kiểm Lâm huyện Đ; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  • * Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
  • + 01 (Một) Máy cưa xăng, loại máy cầm tay, phần vỏ máy bọc nhựa cứng màu da cam nhãn hiệu Husqvarna (đã qua sử dụng không kiểm tra máy móc bên trong);
  • + 01 (Một) con dao nhọn, lưỡi dao được làm bằng kim loại, cán dao được làm bằng gỗ hình E Líp (dao cũ đã qua sử dụng);
  • + 02 (Hai) trục bánh xe có hàn khung sắt vào trục, lốp xe bằng cao su, trục và khung bằng sắt;
  • + 01 (Một) con dao quắm lưỡi cong làm bằng kim loại có tổng chiều dài 36 cm, chuôi dao hình tròn rỗng bên trong có chiều dài 11cm (dao cũ đã qua sử dụng).
  • + 01 (Một) cái cuốc có tổng chiều dài 67cm, cán cuốc được làm bằng gỗ đặc hình tròn có chiều dài 67cm (cuốc cũ đã qua sử dụng);
  • + 01 (Một) cái xẻng có tổng chiều dài 95cm, cán xẻng làm bằng kim loại hình tròn rỗng bên trong có chiều dài 72cm (xẻng cũ đã qua sử dụng);

- Trả lại cho ông Lò Văn T1 01 chiếc máy tời tự chế từ máy của xe gắn máy trên thân máy nổ có chữ LONCIN (đã qua sử dụng).

Tình trạng như trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lò Văn M phải có trách nhiệm bồi thường sung Ngân sách Nhà Nước số tiền là: 135.192.960 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, chín trăm sáu mươi đồng), bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 15.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số: 0000190 ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên). Buộc bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Nhà

nước số tiền còn lại là: 120.192.960 đồng (Một trăm hai mươi triệu, một trăm chín hai nghìn, chín trăm sáu mươi đồng).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.009.648 đồng (Sáu triệu, không trăm linh chín nghìn, sáu trăm bốn tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cho bị cáo.
  2. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024). Nguyên đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - UBND xã Mường Nhà, huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 247/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 247/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger