TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 247/2023/HSST
Ngày: 22/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đồng Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quản Trường Giang
Ông Phan Trung Hiếu
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Diệu Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2023/TLST - HS ngày 6/10/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2023/QĐXX-ST ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Tống M.A, sinh ngày 24/6/1999 tại Sơn La; Giới tính: nữ.
ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Đội 4, thôn Đ, xã T, huyện CH Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Bá Đ và bà Lại Thị Kim C; có 01 con (sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ từ ngày 17/5/2023 đến ngày 26/5/2023
Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú
Có mặt tại phiên tòa.
2.Họ và tên: Phạm Thị L, sinh ngày 13/1/1998 tại Tuyên Quang. Giới tính: nữ;
ĐKHKTT: Thôn A, xã L, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch; Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Hoàng Thị D; có 01 con (sinh năm 2023): tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú
Có mặt tại phiên toà
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997.
HKTT: Phố G, thị trấn T, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa.
Trú tại: Số 3 ngõ 43/99/15 T, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
(vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 2002.
HKTT: Số 53 phố P, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 16 tháng 5 năm 2023, tổ công tác Đội CSĐTTP và TTXH - Công an quận Hoàn Kiếm nhận được tin báo của Khách sạn Hanoi Aria Central, địa chỉ: 45 Lê Duẩn, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội về việc phát hiện 01 đôi nam nữ thuê phòng 402 nghi vấn mua bán dâm. Tổ công tác đã kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Thị Hương (Sinh năm: 1997; ĐKHKTT: Phố Giắt, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Số 3 ngõ 43/99/15 Trung Kính, quận Cầu Giấy, Hà Nội) đang bán dâm cho Nguyễn Duy T (Sinh năm: 2002; Nơi cư trú: 53 Phùng Chí Kiên, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). H và T khai Tống M.A, sử dụng tài khoản Zalo “M.A” đã môi giới để H bán dâm cho T. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Thị H, Nguyễn Duy T về trụ sở để giải quyết.
Thu giữ của Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh 256GB, Imei: 351732279098258, kèm sim: 0972873031 và 3.000.000 đồng; Thu giữ của Nguyễn Duy T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, Imei: 35987056008425. Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Duy T thu giữ các tin nhắn với “M.A” có nội dung thỏa thuận mua bán dâm vào ngày 16/5/2023.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Thị H và Nguyễn Duy T, Cơ quan điều tra đã rà soát xác định Tống M.A đang đứng tại 108 Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội nên mời về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Tống M.A khai: Chiều ngày 16/5/2023, M.A được Nguyễn Duy T hẹn đến ăn tại quán 35 Quang Trung, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Khoảng 17h cùng ngày, M.A một mình đến 35 Quang Trung gặp T và Nguyễn Văn Hiếu (sinh năm: 1987; Chỗ ở: Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Trong khi đang cùng ăn uống, T nảy sinh ý định mua dâm nên đã nhờ M.A môi giới gái bán dâm với giá 6.000.000 đồng. M.A liên hệ với Phạm Thị L có tài khoản Zalo tên “L Nhi” nhờ giới thiệu gái bán dâm. L giới thiệu Nguyễn Thi H đi bán dâm với giá 3.500.000 đồng và yêu cầu M.A chuyển khoản số tiền 500.000 đồng đến tài khoản số 19038426318014 tại Ngân hàng TMCP Kỹ tH Việt Nam, số tiền 3.000.000 đồng sẽ đưa trực tiếp cho gái bán dâm. Ba mươi phút sau, Nguyễn Thị H đến cùng ăn uống, Khoảng 18h30' cùng ngày, T đứng dậy đưa cho M.A 6.000.000 đồng tiền mua dâm và 500.000 đồng tiền công môi giới. M.A đưa cho Huong 3.000.000 đồng rồi T và H bắt xe taxi đến khách sạn Hanoi Aria Central, địa chi: 45 Lê Duẩn, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thuê phòng 402 để mua bán dâm. M.A một mình đi về 108 Nguyễn Trãi thì bị tổ công tác kiểm tra, mời về trụ sở để làm việc.
Thu giữ của Tống M.A: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro - 128Gb màu xanh, imei: 354903620775624; kèm sim: 0963548028 và 3.500.000 đồng. Kiểm tra điện thoại của M.A thu giữ các tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi môi giới mại dâm vào ngày 16/5/2023.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho gái bán dâm Nguyễn Thị H nhận dạng qua ảnh xác định Phạm Thị L đã môi giới H đến gặp M.A để bán dâm cho Nguyễn Duy T.
Ngày 28/8/2023, Phạm Thị L đến Công an quận Hoàn Kiếm làm việc và khai nhận hành vi môi giới Nguyễn Thị H bán dâm cho Nguyễn Duy T thông qua Tống M.A. L đã nhận được tiền công môi giới qua chuyển khoản ngân hàng. Tài khoàn Zalo “L Nhi” là tài khoản do L tạo lập bằng số điện thoại 0975.045.xxx không đăng ký chính chủ nên đã bị hệ thống xóa tài khoản. L đã được xem lại nội dung nhắn tin qua Zalo từ hình ảnh thu giữ trên điện thoại của M.A và công nhận là đúng.
Thu giữ của Phạm Thị L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 6 pro màu đen, Imei: 865926042060434, Imei2: 865926042060442, kèm sim 0975045974.
Người bán dâm Nguyễn Thị H và người mua dâm Nguyễn Duy T khai phù hợp với lời khai của Tống M.A, Phạm Thị L và diễn biến vụ án. Chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Duy T là điện thoại T mượn của anh Lưu Văn Nhu (sinh năm: 1993; ĐKHKTT: thôn Yên Hậu, xã Hoà Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) để sử dụng. Anh Nhu không biết T sử dụng để liên lạc mua dâm nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản cho anh Nhu, anh Nhu nhận lại điện thoại và không có yêu cầu bồi thường dân sự khác.
Ngày 16/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, bán dâm đối với Nguyễn Duy T và Nguyễn Thị H theo quy định tại khoản 1 Điều 24 và khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ - Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hôi; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình.
Tại bản cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 04/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Tống M.A và Phạm Thị L về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” là đúng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xin xét xử vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị kết tội các bị cáo Tống M.A và Phạm Thị L về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1 điều 328 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, (khoản 2 điều 51 BLHS đối với bị cáo Phạm Thị L) xử phạt bị cáo Tống M.A mức án từ 04 tháng tù đến 08 tháng tù; bị cáo Phạm Thị L mức án từ 04 tháng tù đến tháng tù 08 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại
Tịch thu sung công: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro - 128Gb màu xanh của Tống M.A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 6 pro màu đen của Phạm Thị L, số tiền 6.500.000 đồng vì liên quan đến hành vi phạm tội. Truy thu số tiền 500.000 đồng hưởng lợi bất chính đối với bị cáo L.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh 256GB
Các bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 4 điều 328 Bộ luật hình sự
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/5/2023, Tống M.A và Phạm Thị L có hành vi làm trung gian, môi giới cho Nguyễn Thị H bán dâm cho Nguyễn Duy T với số tiền 6.500.000 đồng. Tống M.A được hưởng lợi 3.000.000 đồng, Phạm Thị L được hưởng lợi 500.000 đồng. Khi H đang thực hiện hành vi bán dâm cho T Tại Phòng 402- Khách sạn Hanoi Aria Central, địa chỉ: 45 Lê Duẩn, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội thì bị kiểm tra phát hiện.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Tống M.A và Phạm Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo Tống M.A là người môi giới cho Nguyễn Duy T mua dâm, hưởng lợi 3.000.000 đồng. Bị cáo là người trưởng thành, bị cáo hiểu biết pháp luật tuy nhiên vì lợi ích bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo Phạm Thị L là người môi giới cho Nguyễn Thị H bán dâm, hưởng lợi 500.000 đồng. Bị cáo là người trưởng thành, bị cáo hiểu biết pháp luật tuy nhiên vì lợi ích bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi đang nuôi con nhỏ nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến đạo đức và thuần phong mỹ tục của Việt Nam, nên Hội đồng xét xử thấy phải xử phạt nghiêm minh và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về dân sự: không.
[5] Về xử lý vật chứng:
+Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại đã cũ
+Tịch thu sung công: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 13 pro - 128Gb màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng của Tống M.A; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh 256GB, đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Redmi 6 pro màu đen, của Phạm Thị L; Số tiền 6.500.000 đồng vì liên quan đến hành vi phạm tội.
Buộc bị cáo Phạm Thị L nộp số tiền 500.000 đồng thu lời bất chính để sung công quỹ Nhà Nước
+Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 4 điều 328 Bộ luật hình sự
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Tống M.A, Phạm Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51, (khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo L); Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí.
Xử phạt: bị cáo Tống M.A 08 (tám) tháng tù,
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/5/2023 đến ngày 26/5/2023
Xử phạt: bị cáo Phạm Thị L 06 (sáu) tháng tù,
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
+Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 4 điều 328 Bộ luật hình sự
2.Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
3. Về vật chứng:
+Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại đã cũ
+Tịch thu sung công: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 13 pro - 128Gb màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng của Tống M.A; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh 256GB, đã cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Redmi 6 pro màu đen, của Phạm Thị L ; Số tiền 6.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Phạm Thị L nộp số tiền 500.000 đồng thu lời bất chính để sung công quỹ Nhà Nước
Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023 và ủy nhiệm chi số 55 lập ngày 25/10/2023.
4. Về án phí: Bị cáo Tống M.A và bị cáo Phạm Thị L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Phạm Đồng Trưng |
Bản án số 247/2023/HSST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội môi giới mại dâm
- Số bản án: 247/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: MGMD
