Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 247/2024/HSST

Ngày: 09 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Công Trung – Giáo viên trường THCS Hiệp tân, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh.

2/ Ông Nguyễn Đình Thức.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Lê Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP. xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 243/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đức Anh T; sinh ngày 07/12/2007, tại: Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký NKTT: thôn Ư, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; chổ ở hiện nay: Số G, đường số G, Khu dân cư C, Ấp A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức N, sinh năm: 1980 và bà Đoàn Thị T1, Sinh năm: 1985; vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 27/05/2024. Hiện đang bị tạm giam trại trại tại giam C (Cở sở T30) và có mặt tại phiên tòa.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Công M – Trung tâm T5 (Có mặt).

- Người giám hộ cho bị cáo: bà Đoàn Thị T1 (Mẹ ruột), sinh năm 1985; trú tại: Số G, đường số G, Khu dân cư C, Ấp A, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người bị hại: cháu Nguyễn Thị Mỹ T2, sinh ngày: 26/04/2012; trú tại: 1, tổ E, khu phố G, phường T, quận A, TP . (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho cháu T3: bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982; trú tại: 1, tổ E, khu phố G, phường T, quận A, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 03/2024, thông qua mạng xã hội, Lê Đức Anh T có mối quan hệ tình cảm với cháu Nguyễn Thị Mỹ T2 (sinh ngày 26/4/2012), T sử dụng tài khoản Facebook tên “Lê T” và Z tên “Lê T”, còn cháu T2 sử dụng tài khoản Facebook tên “Tuyết N1” và Z tên “Tuyết N1” để liên lạc với nhau.

Ngày 10/3/2024, T và cháu T2 kết bạn qua mạng xã hội Z và thường xuyên trò chuyện với nhau. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, T đi xe ôm công nghệ đến nhà cháu T2, địa chỉ 13/2 Tổ E, Khu phố G, đường P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh rủ cháu T2 đi uống cà phê, cháu T2 đồng ý rồi T cùng cháu T2 đi đến quán G, địa chỉ B T, phường T, quận T. Trong lúc quán vắng khách, T quay người sang trái dùng bàn tay phải luồn tay từ vạc áo thun của cháu T2 vào trong áo ngực rồi dùng bàn tay xoa bên ngực trái khoảng 15 giây thì T di chuyển bàn tay phải xuống, luồn vào trong quần lót cháu T2 đang mặc rồi dùng bàn tay phải sờ trực tiếp vào âm hộ của cháu T2, T đưa ngón tay giữa của bàn tay phải vào trong âm đạo của cháu T2 khoảng 30 giây thì T rút tay ra rồi cả hai ngồi nói chuyện. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, T đón xe ôm công nghệ cho cả hai về. Sau khi về, T đề nghị cháu T2 chụp ảnh các vị trí nhạy cảm trên cơ thể cháu T2 (ngực trần và bộ phận sinh dục) để gửi cho T, mục đích xem các ảnh này và thỏa mãn nhu cầu sinh lý của T, cháu T2 đồng ý và tự chụp ảnh gửi cho T qua ứng dụng Zalo. Khoảng tháng 05/2024, cháu T2 gửi cho T 07 tấm hình chụp ngực và 01 tấm hình chụp bộ phận sinh dục của cháu T2.

Qua ứng dụng Facebook, T biết cháu T2 đang có tình cảm yêu đương với tài khoản Facebook tên “Ngọc Bảo” (chưa rõ lai lịch), nên T kết bạn và trò chuyện với “Ngọc Bảo”. Sau đó, T gửi hình ảnh nhạy cảm của T2 cho “Ngọc Bảo” và cho “Ngọc B” biết cháu T2 là người lăng nhăng trong quan hệ yêu đương.

Sau đó, “Ngọc B” bàn bạc với T dùng hình ảnh nhạy cảm của cháu T2 để yêu cầu cháu T2 đưa tiền, nếu không thì sẽ gửi hình ảnh này lên mạng xã hội và bạn bè trong trường của cháu T2, do đang cần tiêu xài nên T đồng ý. T gửi ngược hình ảnh nhạy cảm của cháu T2 lại cho cháu T2 và yêu cầu cháu T2 đưa 5.000.000 đồng cho T, đồng thời T còn yêu cầu cháu T2 cho T quan hệ tình dục. Cháu T2 nài nỉ nên T giảm còn 2.000.000 đồng và yêu cầu cháu T2 gặp mặt T trực tiếp tại chung cư C thuộc Phường G, Quận H để đưa tiền và quan hệ tình dục.

Đến ngày 18/5/2024, cháu T2 không có tiền và sợ T sẽ phát tán hình ảnh nhạy cảm của cháu T2 nên cháu T2 đã kể vụ việc bà Lê Thị Đ1 (mẹ ruột của cháu T2) biết. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, bà Đ1 dẫn cháu T2 đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc. Sau đó, cháu T2 xin bà Đ1 số tiền 2.000.000 đồng và đi đến điểm hẹn gặp mặt T. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T2 đến dưới chung cư C và gọi điện cho T xuống gặp để đưa tiền. Khi T và T2 gặp nhau thì Công an phường T, Quận A đến hỏi sự việc và mời về trụ sở

làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 57/KLTDTE-TTPY.2024 ngày 14/8/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố H đối với cháu Nguyễn Thị Mỹ T2, kết luận:

  • - Màng trinh: Dãn. Không rách.
  • - Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.
  • - Chỉ hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm hộ nhưng không đủ làm cơ sở so sánh với ADN của đối tượng. (BL 13 – 15)

Vật chứng thu giữ: có bản thống kê vật chứng kèm theo vụ án.

Về dân sự: Gia đình của Lê Đức Anh T thăm hỏi, bồi thường thiệt hại tinh thần cho cháu Nguyễn Thị Mỹ T2 số tiền 15.000.000 đồng, gia đình của cháu T2 có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. (BL 108 – 112)

Tại bản Cáo trạng số: 262/CT-VKSQ.TP ngày 22 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Lê Đức Anh T về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

  • - Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
  • Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Đức Anh T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lê Đức Anh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản".
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.
  • - Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại. Gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án thấp nhất.
  • - Bị cáo Lê Đức Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Đức Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định hình ảnh, phù hợp với Kết luận giám định xâm hại tình dục. Nên có đủ căn cứ để xác định: Ngày 17/3/2024, Lê Đức Anh T đã có hành vi dùng tay phải sờ ngực và dùng ngón tay phải đưa vào trong âm đạo của cháu Nguyễn Thị Mỹ T2 (sinh ngày 26/4/2012, 11 năm 10 tháng 20 ngày tuổi) tại quán G (số B T, phường T, quận T). Đến ngày 18/5/2024, T còn có hành vi sử dụng hình ảnh nhạy cảm của cháu T2 đe dọa, uy hiếp tinh thần của cháu T2 nhằm chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng, thì bị phát hiện.

    Vì vậy, Cáo trạng số: 262/CT-VKSQ.TP ngày 22 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Lê Đức Anh T về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

  3. [3] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ em và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
  4. [4] Về tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. [5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận

    hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 91, 101 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

  6. [6] Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là phù hợp.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của Lê Đức Anh T thăm hỏi, bồi thường thiệt hại tinh thần cho cháu Nguyễn Thị Mỹ T2 số tiền: 15.000.000 đồng, gia đình của cháu T2 có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  8. [8] Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55, số Imei 1: 866787054518332, số Imei 2: 866787054518324, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động cá nhân của cháu Nguyễn Thị Mỹ T2. Cần tuyên trả lại cho cháu T2.
    • - Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, có họa tiết hình con thỏ màu trắng phía trước ngực áo. Đây là quần áo của cháu Nguyễn Thị Mỹ T2 mặc khi bị Lê Đức Anh T thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 Plus, số máy: MNQP2VN/A, số Imei: 355353089316693, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Lê Đức Anh T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, có họa tiết màu hồng trắng trước ngực; 01 quần thun lửng màu đen. Đây là quần áo được Lê Đức Anh T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • - Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 241/LNK-ĐTTH ngày 08/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 37)
  9. [9] Án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. [1] Tuyên bố: bị cáo Lê Đức Anh T phạm tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
  2. [2] Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  3. [3] Xử phạt: bị cáo Lê Đức Anh T 05 năm 06 tháng tù về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  4. [4] Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  5. [5] Xử phạt: bị cáo Lê Đức Anh T 02 năm 06 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
  6. [6] Tổng hợp hình phạt: áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự.

    Buộc bị cáo Lê Đức Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 08 (Tám) năm tù.

    Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 27/05/2024.

  7. [7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 Plus, số máy: MNQP2VN/A, số Imei: 355353089316693, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho cháu Nguyễn Thị Mỹ T2: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55, số Imei 1: 866787054518332, số Imei 2: 866787054518324, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu đen, có họa tiết hình con thỏ màu trắng phía trước ngực áo; 01 áo thun ngắn tay màu đen, có họa tiết màu hồng trắng trước ngực; 01 quần thun lửng màu đen.
    • Các vật chứng nêu trên được nhập kho theo Lệnh nhập kho vật chứng số 241/LNK-ĐTTH ngày 08/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
  8. [5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    - Buộc bị cáo Lê Đức Anh T phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. [6] Về quyền kháng cáo: bị cáo Lê Đức Anh T, Luật sư bào chữa cho bị cáo, người giám hộ cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, Người giám hộ cho người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 247/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: hiếp dâm người dưới 16 tuổi và cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 247/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger