TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2024/DSST
Ngày: 12/11/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường 6 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 442/2024/TLST-DS ngày 25/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2024/QĐXXST-DS ngày 01/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1713/2024/QÐST-DS ngày 18/10/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (B1).
Địa chỉ trụ sở: số A, P, Quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 3968/2019/UQ-BVB ngày 07/10/2019): Ông Trịnh Minh T1; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đ.
Ông T1 ủy quyền lại cho ông Chu Văn T2, sinh năm 1988.
Địa chỉ liên hệ: số F, Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy ủy quyền số 268/2023/UQ-BVB-DNI ngày 30/5/2023).
- Bị đơn: Ông Trương Chí T3, sinh năm 1977.
Địa chỉ: D, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T2 có mặt; ông T3 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại các bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Chu Văn T2 trình bày:
Ông Trương Chí T3 vay vốn tại Ngân hàng TMCP B (B1) theo Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019.
Theo Hợp đồng tín dụng này, B1 đồng ý cho ông Trương Chí T3 vay số tiền 640.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua xe ô tô. Thời hạn vay: 84 tháng từ ngày giải ngân; Lãi suất: 7,8%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh 06 tháng/lần và được xác định bằng lãi suất huy động tiết kiệm đồng Việt Nam kỳ hạn 13 tháng (trả lãi sau) do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,5%/năm. Lãi suất áp dụng với dư nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (Lãi suất quá hạn).
Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, B1 đã giải ngân cho ông T3 số tiền 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng). Chi tiết thể hiện tại khế ước nhận nợ ngày 18/03/2019. Tài sản bảo đảm của khoản vay: Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3. Hợp đồng thế chấp tài sản trên đã được Công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Dù Ngân hàng đã làm việc, gửi thông báo và tạo điều kiện cho ông T3 thanh toán khoản vay nhưng ông T3 không có thiện chí hợp tác.
Đến nay ông T3 đã thanh toán cho Ngân hàng tiền nợ gốc 236.220.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi 145.946.179 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi chín đồng).
Do ông Trương Chí T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu ông Trương Chí T3 thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại Tòa án.
Đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc ông Trương Chí T3 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 12/11/2024 bao gồm:
- - Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng);
- - Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng);
- - Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng).
Tổng cộng: 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng).
Ông T3 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tin dụng trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 13/11/2024 cho đến khi ông T3 thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
- Kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Trương Chí T3 không thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là xe ô tô nhãn hiệu Mazda BT50 màu nâu, biển kiểm soát 60C 47168, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng CSGT – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản vay thì ông Trương Chí T3 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay còn lại cho Ngân hàng.
Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
- Đối với bị đơn ông Trương Chí T3: Quá trình tố tụng, bị đơn ông Trương Chí T3 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng ông T3 vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông T3 cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Trương Chí T3 có địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là vụ kiện thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Thẩm phán đã xác định thẩm quyền thụ lý vụ án đúng với quy định của pháp luật.
- Về quan hệ pháp luật: Thẩm phán xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP B với ông Trương Chí T3 là hoàn toàn phù hợp đúng với khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
- Về xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định nguyên đơn, bị đơn theo đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS.
- Về thụ lý vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử:
- + Về thụ lý vụ án: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS.
- + Về thời hạn chuẩn bị xét xử: xét thấy Thẩm phán đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 BLTTDS.
- Về thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS .
- Về việc chuyển giao hồ sơ cho VKS: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS.
- Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng: Thẩm phán đều thực hiện đúng quy định tại các Điều 171, 173, 17, 179 BLTTDS.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- - Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về người có yêu cầu khởi kiện, cung cấp chứng cứ cho toà án để chứng minh những yêu cầu hợp pháp của mình, tham gia phiên họp công khai chứng cứ theo đúng thông báo của toà án là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 85, 86, 91, 96 BLTTDS.
- - Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
* Xét yêu cầu của TMCP B (B1) yêu cầu ông Trương Chí T3 phải thanh toán nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 12/11/2024 là 596.500.469 đồng (Nợ gốc: 403.780.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng; Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng).
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Giữa Ngân hàng TMCP B (B1) và ông Trương Chí T3 có thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019 để vay số tiền: 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng). Mua xe ô tô. Thời hạn vay: 84 tháng từ ngày giải ngân. Lãi suất: 7,8%/năm áp dụng trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân. Sau đó, lãi suất cho vay được điều chỉnh 06 tháng/lần và được xác định bằng lãi suất huy động tiết kiệm đồng Việt Nam kỳ hạn 13 tháng (trả lãi sau) do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,5%/năm. Lãi suất áp dụng với dư nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (Lãi suất quá hạn). Khoản vay đã được Ngân hàng giải ngân cho ông T3 vào ngày 18/3/2019 theo khế ước nhận nợ ngày 18/3/2019.
Xét thấy: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trương Chí T3 đã thanh toán cho B1 số tiền nợ gốc 236.220.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi 145.946.179 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi chín đồng). Từ ngày 03/3/2019, ông Trương Chí T3 đã vi phạm nội dung thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Do ông Trương Chí T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc B1 yêu cầu ông Trương Chí T3 phải thanh toán khoản nợ cho B1 số tiền tạm tính đến ngày 12/11/2024 là 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng) là có căn cứ nên cần được chấp nhận theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP B.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông T3 tại Ngân hàng là: Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng TMCP B theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1317192.A19.HĐTC.DNI ngày 18/3/2019 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 18/3/2019 theo đúng quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn – ông Trương Chí T3 đã được Tòa án tống đạt (niêm yết) các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho mình cũng như có văn bản phản hồi lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay ông Trương Chí T3
Do đó, nếu ông Trương Chí T3 không trả nợ cho Ngân hàng TMCP B (B1) hoặc trả không đầy đủ thì phải chịu biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP B (B1).
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B:
- - Buộc ông Trương Chí T3 thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền vay tạm tính đến ngày 12/11/2024 là 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng)
Kể từ ngày 13/11/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn ông Trương Chí T3 còn phải tiếp tục trả lãi trong hạn, lãi quá hạn phát sinh theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên.
- - Trong trường hợp ông Trương Chí T3 không thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là xe ô tô nhãn hiệu Mazda BT50 màu nâu, biển kiểm soát 60C 47168, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng CSGT – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3.
- - Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản vay thì ông Trương Chí T3 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay còn lại cho Ngân hàng.
- Về án phí dân sơ thẩm: ông Trương Chí T3 phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:
Ngân hàng TMCP B (B1) yêu cầu ông Trương Chí T3 trả số tiền nợ chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019 các bên đã ký kết. Căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng TMCP B (B1) là nguyên đơn, ông Trương Chí T3 là bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn – ông Trương Chí T3 có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[3] Về thủ tục tố tụng:
Đại diện nguyên đơn ông Chu Văn T2 có mặt.
Đối với bị đơn ông Trương Chí T3: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn biết nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xác minh địa phương cho biết: ông Trương Chí T3, sinh năm 1977 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ D, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2020. Hiện ông T3 sinh sống tại đâu thì địa phương không nắm rõ.
Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1317192.A19.HĐTC.DNI ngày 18/3/2019 có ghi cụ thể địa chỉ và số CMND của bị đơn. Khi thay đổi địa chỉ, bị đơn không thông báo cho nguyên đơn được biết. Do đó, căn cứ theo Nghị quyết số 04 ngày 05/5/2017 của HĐTP-TANDTC xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, khi giải quyết vụ án, Tòa án căn cứ vào địa chỉ trong hợp đồng mà ông T3 đã ký kết với Ngân hàng làm căn cứ địa chỉ của bị đơn để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn – ông Trương Chí T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T3 theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về việc giải quyết vụ án:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Trương Chí T3 trả cho Ngân hàng B1 số tiền nợ tín dụng tạm tính đến ngày 12/11/2024 là: 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng). Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu ông Trương Chí T3 phải thanh toán cho Ngân hàng B1 tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay kể từ ngày 13/11/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 18/3/2019, Ngân hàng TMCP B (B1) và ông Trương Chí T3 ký kết Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 (Bút lục 61-67).
Về số tiền vay, mục đích vay và lãi suất của hợp đồng nêu trên như đại diện nguyên đơn trình bày.
Để đảm bảo cho khoản vay ông T3 đã thế chấp Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1317192.A19.HĐTC.DNI ngày 18/3/2019, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngân hàng B1 xác định ông T3 đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 236.220.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi 145.946.179 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi chín đồng). Ông T3 thanh toán đến ngày 10/5/2022, sau đó không thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Do ông Trương Chí T3 đã vi phạm nội dung thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn.
Tại biên bản xác minh ngày 24/5/2024 của Công an phường T, thành phố B xác nhận: Ông Trương Chí T3 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ D, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2020. Hiện ông T3 sinh sống tại đâu thì địa phương không nắm rõ (bút lục 113, 114).
Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B (B1). Vì vậy xem như ông T3 đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ, đồng thời thừa nhận việc thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay của ông T3.
Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở xác định việc ông T3 vay của Ngân hàng TMCP B (B1) số tiền 640.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi triệu đồng), đã trả được số tiền nợ gốc 236.220.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi 145.946.179 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi chín đồng). Tính đến ngày 12/11/2024, ông T3 còn nợ 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng) là có thật. Ông Trương Chí T3 sử dụng tài sản là xe ô tô nhãn hiệu
MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3 làm tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1317192.A19.HĐTC.DNI ngày 18/3/2019.
Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trương Chí T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tính đến ngày 12/11/2024 là 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng).
Trường hợp ông Trương Chí T3 không thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền nêu trên, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý theo quy định đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Kể từ ngày 13/11/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, ông Trương Chí T3 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019 các bên đã ký kết.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản vay thì ông Trương Chí T3 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay còn lại cho Ngân hàng.
[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: ông Trương Chí T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 180, Điều 220, các Điều 227, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (B1).
Buộc ông Trương Chí T3 trả cho Ngân hàng TMCP B (B1) số tiền tính đến ngày 12/11/2024 là 596.500.469 đồng (Năm trăm chín mươi sáu triệu năm trăm nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ gốc: 403.780.000 đồng (Bốn trăm lẻ ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng); Nợ lãi trong hạn: 65.132.450 đồng (Sáu mươi lăm triệu một trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi đồng); Nợ lãi quá hạn: 127.588.019 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười chín đồng).
Kể từ ngày 13/11/2024, ông Trương Chí T3 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B (B1) tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 039/2019/HĐTD2/BVB64 ký ngày 18/3/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp ông Trương Chí T3 không thanh toán cho Ngân hàng TMCP B (B1) số tiền nêu trên, Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu MAZDA BT50 biển kiểm soát 60C 47168, màu nâu, sản xuất năm 2018, số khung: 4DF0KW875855, số máy: P5AT2678590, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 122992 do Phòng C – Công an tỉnh Đ cấp ngày 08/4/2019 cho ông Trương Chí T3 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1317192.A19.HĐTC.DNI ngày 18/3/2019 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 18/3/2019.
Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán toàn bộ nợ vay, ông T3 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trương Chí T3 phải chịu 27.860.019 đồng (Hai mươi bảy triệu tám trăm sáu mươi nghìn không trăm mười chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B (B1) số tiền 11.765.506 đồng (Mười một triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm lẻ sáu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003419 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn ông Trương Chí T3 được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phú |
Bản án số 247/2024/DSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 247/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Bảo Việt tranh chấp hợp đồng tín dụng với Trưởng Chí Tâm
