TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2024/DS-PT Ngày: 11 - 11 - 2024 V/v: Tranh chấp về đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải
Bà Bùi Thị Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lường Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Thái quốc Bảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 203/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về đất đai”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo, kháng nghị
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 203/2024/QĐ-PT ngày 21/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐ-PT ngày 01/11/2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1944; Địa chỉ: 1 ấp C, Quốc lộ E, xã B, huyện B,TP. Hồ Chí Minh. (Có mặt).
1.2. Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1955; Địa chỉ: F V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Tân K, sinh năm 1960; Địa chỉ: số C đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V; Địa chỉ: Số I T, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Đình Q – Giám đốc Chi nhánh. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh H – Viên chức Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V. (Có mặt).
3.2. Ủy ban nhân dân thành phố V; Địa chỉ: H L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Trọng T1 – Phó Chủ tịch. (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Tú A. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
3.3. Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 2003 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974; Địa chỉ: 3 L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà T2: Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1973; Địa chỉ: 3 L, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
3.4. Ông Lương Khải Q1, sinh năm 1950; bà Nguyễn Thị Ánh T3, sinh năm 1973 và bà Lương Thị N, sinh năm 1978; Địa chỉ: F KP. T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Ông Q1 có mặt, bà T3 và bà N vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà T3 và bà N: Ông Lương Khải Q1, sinh năm 1950; Địa chỉ: F khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: Bản án số 112/2018/DS-PT ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên trong vụ tranh chấp di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Đ là mẹ của bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Ngọc T, Nguyễn Tân K. Theo đó, Tòa án công nhận cho:
Nguyễn Thị D được sử dụng 856m² đất;
Nguyễn Thị Ngọc T được sử dụng 280m² đất;
Nguyễn Tân K được sử dụng 4.887m² đất;
Nguyễn Thị N1 được sử dụng 166m² đất.
Sau khi có bản án của TAND cấp cao, ông Nguyễn Tân K đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố V không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho K với lý do: Trong tổng diện tích đất thừa kế của bà Nguyễn Thị D1 (mẹ của bà Nguyễn Thị Đ) theo quy định của pháp luật thì được xác nhận 750m² hạn mức đất thổ cư.
Vào ngày 20/10/2021, ông Nguyễn Tân K lập Văn bản thỏa thuận phân chia 750m² hạn mức đất ở. Theo đó, phân chia hạn mức như sau:
Bà Nguyễn Thị D được sử dụng 856m² đất; có 200m² đất ở
Bà Nguyễn Thị Ngọc T được sử dụng 280m² đất; có 100m² đất ở
Ông Nguyễn Tân K được sử dụng 4.887m² đất; có 350m² đất ở
Bà Nguyễn Thị N1 được sử dụng 166m² đất; có 100m² đất ở
Sau khi lập Văn bản thỏa thuận phân chia 750m² hạn mức đất ở, ông K không thực hiện đúng mà tự đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 17/5/2022, ông K được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY032307 đối với diện tích 4.884m² thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại số F V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong đó, hạn mức sử dụng 750m² đất ở và 4.134m² đất trồng cây lâu năm.
Việc ông K làm thủ tục cấp toàn bộ 750m2 đất ở là trái với thỏa thuận ngày 20/10/2021, làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của người khác.
Nay bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu pháp luật cho bà D được hưởng bao nhiêu đất thổ cư thì bà D nhận theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bà D không yêu cầu gì khác.
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Bà T thừa nhận có lập văn bản và ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia 750m² hạn mức đất ở ngày 20/10/2021. Bà T yêu cầu ông K tách 100m2 đất thổ cư cho bà được sử dụng theo thỏa thuận.
* Bị đơn ông Nguyễn Tân K trình bày: Ông K xác nhận bản án số 112/2018/DS-PT ngày 14 tháng 5 năm 2018 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên trong vụ tranh chấp di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Đ như nguyên đơn trình bày là đúng.
Tuy nhiên, sau khi có bản án phúc thẩm ông K đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng UBND thành phố V không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K.
Ngày 26/5/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V có Thông báo số 3987/TB-CNVP ĐKĐĐ và Văn bản số 4898/UBND-TNMT ngày 10/7/2020; Quyết định số 4785/QĐ-UB ngày 28/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố V.
Do đó, ngày 24/3/2021 ông K khởi kiện UBND thành phố V các Quyết định và Văn bản trên trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2022/HC-ST ngày 18-01-2022 đã tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tân K, buộc UBND thành phố V làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Tân K đối với diện tích 4.987,2m² thuộc thửa đất số 05 (số mới 28 + 30), tờ bản đồ số 02 (mới 55) tọa lạc tại số F V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Sau khi có bản án hành chính thì Văn bản thỏa thuận ngày 20/10/2021 không còn giá trị.
Ngày 30/12/2022, UBND thành phố V có Văn bản số 11785/UBND-TNMT trả lời việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Tân K đã nêu rõ nội dung.
Ngày 20/4/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V có Thông báo số 302/TB-CNVPĐK, thông báo cho các đương sự liên quan về việc làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tân K.
Hết thời hạn theo quy định các đương sự liên quan không ai có ý kiến gì nên ngày 17/5/2022 ông Nguyễn Tân K được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY032307 đối với diện tích 4.884,0m² thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại số F V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong đó, hạn mức sử dụng 750m² đất ở và 4.134m² đất trồng cây lâu năm.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSD đất ông K đã chuyển nhượng toàn bộ cho ông Nguyễn Quốc M theo Giấy chứng nhận được cấp nghĩa là chuyển nhượng cả 750m² đất thổ cư.
Trước khi cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông K thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã ra thông báo nhưng các người liên quan không có ý kiến gì đồng nghĩa đã từ bỏ cơ hội của mình. Nay ông K xác nhận không còn đất để thực hiện yêu cầu của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Mạnh H1 trình bày: Theo hợp đồng ngày 20/4/2022, ông Nguyễn Mạnh H1 có hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Tân K và đã gửi tiền vào tài khoản của con gái ông K và cả ông K chuyển nhượng quyền sử dụng đất với tổng diện tích 7300m². Trong thực tế bản án của Tòa án chỉ cấp 4.884m² trong đó có 750m² thổ cư còn lại số diện tích trên hiện tại đang nằm trong ranh giới rừng phòng hộ nên chưa cấp được. Trong quá trình đặt cọc, ông Nguyễn Mạnh H1 tự lo liệu các thủ tục từ Tòa án, các chính quyền địa phương để ra giấy tờ hợp pháp đúng pháp luật. Vào ngày 17/5/2022, thì ông H1 giao cho ông M đi công chứng sang tên chuyển nhượng một phần đã ra giấy trước của ông Nguyễn Tân K với tổng diện tích đất như trên. Phần còn lại hiện trạng sơ đồ vị trí và phần diện tích còn lại gia đình ông M quản lý theo hợp đồng với ông H1 ban đầu. Tất cả được sao lục hợp đồng nộp cho Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND thành phố V trình bày: Tại Văn bản số 8931/UBND-TNMT ngày 13 tháng 11 năm 2023, UBND thành phố V có ý kiến như sau:
- Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tân K:
+ Hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận của ông Nguyễn Tân K tại Phường A, thành phố V được Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tiếp nhận mã số 2020.05856. Ngày tiếp nhận 24/03/2020.
Ông Nguyễn Tân K đăng ký cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất 4.987m² (theo kết quả lập sơ đồ thửa đất thì diện tích là 4.967,3m²) thuộc tờ bản đồ số 55 (cũ: 02), một phần thửa đất số 28+30 (cũ: 05) tại số F đường V, phường A, thành phố V.
Theo xác nhận ngày 18/3/2020 của U và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện diện tích đất trên có nguồn gốc do bà Ngô Thị D2 khai phá trước năm 1976. Bà D2 có “Giấy xác nhận đã đăng ký đất” được Phòng Quản lý Nhà đất thị xã V xác nhận ngày 03/3/1976 với diện tích 9.000m² và có “Giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà” số 311 được UBND phường C (cũ) xác nhận ngày 05/01/1978. Năm 1984, bà D2 chết để lại cho con là bà Nguyễn Thị Đ tiếp sử dụng. Ngày 17/11/1993, bà Đ có "Đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất" được UBND phường U xác nhận. Năm 1999, bà Đ có "Tờ di chúc" được UBND phường U xác nhận ngày 06/7/1999 với nội dung để lại cho ông
Nguyễn Tân K phần diện tích còn lại (sau khi đã trừ diện tích 600,0m² đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quế L và diện tích 800,0m² cho con gái là bà Nguyễn Thị D). Năm 2002, bà Đ chết. Gia đình xảy ra tranh chấp. Theo Bản án số 112/2018/DS-PT ngày 24/5/2018 của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử: "Công nhận bản di chúc do bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 05/7/1999 và ý chí sửa đổi di chúc của bà Đ ngày 15/10/1999 đúng quy định của pháp luật và có hiệu lực đối với diện tích đất 6.687,2m²".
U có Danh sách công khai số 236/DSCK-UBND, công khai kết quả kiểm tra hồ sơ từ ngày 02/3/2020 đến ngày 17/3/2020. Hiện tại không có ai tranh chấp.
Theo quy định tại Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 thì thửa đất của bà Ngô Thị D2 thuộc trường hợp đất ở có vườn, ao được hình trước ngày 18/12/1980, hạn mức đất ở được công nhận tối đa là 750m² theo quy định tại Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 29/10/2014 của UBND tỉnh B. Tuy nhiên, nội dung tại Bản án số 112/2018/DS-PT ngày 24/5/2018 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không thể hiện nội dung giải quyết về phân chia hạn mức đất ở (đối với tổng diện tích đất ở được công nhận của thửa đất) như thế nào nên cần phải có ý kiến thống nhất về việc phân chia hạn mức đất ở giữa các cá nhân được quyền sử dụng đất mà cơ quan tòa án đã tuyên trong bản án nói trên.
Liên quan đến nội dung này, Chi nhánh văn phòng Đ đã Thông báo số 3987/TB-CNVPĐK ngày 20/5/2020 đề nghị ông K bổ sung văn bản thỏa thuận phân chia diện tích 750m² đất ở (theo hạn mức) giữa những người được quyền sử dụng đất mà cơ quan tòa án đã tuyên. Đến ngày 26/5/2020, ông K bổ sung Văn bản từ chối thực hiện việc lập văn bản thỏa thuận phân chia đất ở. Đồng thời, theo nội dung trình bày trong văn bản này thì Tòa án cũng không giải quyết về diện tích đất ở nên không có cơ sở đề xuất giải quyết hồ sơ.
Trên cơ sở đó, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai nhận định Bản án số 112/2018/DS-PT chưa được thi hành nên trường hợp sử dụng đất của ông K chưa đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Khoản 3, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 10/7/2020, UBND thành phố V có Văn bản số 4898/UBND-TNMT trả hồ sơ cho công dân.
+ Không đồng ý với nội dung Văn bản số 4898/UBND-TNMT nêu trên, ông Nguyễn Tân K có đơn khiếu nại và UBND Thành phố ban hành Quyết định số 3404/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 giao nhiệm vụ cho Phòng T5 xác minh, tham mưu giải quyết.
Ngày 28/9/2020, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 4785/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) với nội dung bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Tân K.
+ Không đồng ý nội dung nêu trên, ông K có đơn khởi kiện đến cơ quan Tòa án.
Ngày 18/01/2022, TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Bản án số 06/2022/HC-ST về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo đó, Bản án tuyên hủy Văn bản số 4989/UBND-TNMT này 10/7/2020 của UBND thành phố V; hủy Quyết định số
4785/QĐ-UBND ngày 28/9/2020 của UBND thành phố V. Buộc ủy ban nhân dân thành phố V làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Tân K đối với diện tích theo 4.987,2m² thuộc thửa đất số 05 (mới 28+30), tờ bản đồ 02 (mới 55) tại số F đường V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định của Pháp luật.
Ngày 27/4/2022, TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có Quyết định số 05/2022/QĐ-THA buộc UBND thành phố V và Chủ tịch UBND thành phố V thi hành bản án hành chính sơ thẩm nêu trên. Ngày 09/5/2022, UBND thành phố V có văn bản số 3898/UBND-VP giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện Quyết định này.
Ngày 07/5/2022, U xác nhận lại Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận và tình trạng tranh chấp. U có Danh sách công khai số 467/DSCK-UBND, công khai kết quả kiểm tra hồ sơ từ ngày 22/4/2021 đến ngày 06/5/2021. Hiện tại không có ai tranh chấp.
Ngày 09/5/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V có Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 107814/PC đối với diện tích 4.884,0m² trong đó có 750,0m² đất ở (trong hạn mức) và 4134,0m² đất trồng cây lâu năm, không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 11/5/2022, Chi cục thuế Khu vực V – Côn Đảo có thông báo nộp lệ phí trước bạ với số tiền 50.451.000 đồng.
Ngày 12/5/2022, người sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 2385446, mã hiệu BRV192322.
Ngày 12/5/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V có Phiếu chuyển số 1932/PC-CNVPĐK với nội dung: Trường hợp sử dụng đất, nhà của ông Nguyễn Tân K sử dụng nhà đất có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, cụ thể: “Giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà số 311 do UBND phường C, Thị xã V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/01/1978 đứng tên bà Ngô Thị D2”. Xác định vị trí căn nhà xây dựng năm 1975 (theo Giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà ngày 05/01/1978) nằm tại vị trí thửa đất ông K đang lập thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận. Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, điểm đ khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, văn bản số 1681/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 31/8/2016 của T6 - Bộ T7; điểm a, khoản 2 Điều 2 Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 19/5/2014 của UBND tỉnh B thì trường hợp của ông Nguyễn Tân K đủ điều kiện giải quyết thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận với diện tích 4.884m² trong đó có 750m² đất ở và 4.134m² đất trồng cây lâu năm thuộc tờ bản đồ 55 mới, thửa đất số 28 mới tại Phường A, thành phố V.
Ngày 16/5/2022, Phòng T5 có Tờ trình số 1990/TTr-TNMT trình UBND thành phố V giải quyết theo thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 17/5/2022, UBND thành phố V ký cấp Giấy chứng nhận số CY 032307 cho ông Nguyễn Tân K với diện tích 4.884m² trong đó có 750m² đất ở và 4.134m² đất
trồng cây lâu năm thuộc tờ bản đồ 55 mới, thửa đất số 28 mới tại Phường A, thành phố V.
+ Trong quá trình giải quyết hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V đã có các văn bản gửi các ông, bà liên quan để thông báo về hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận của ông Nguyễn Tân K và lấy ý kiến, bao gồm:
Văn bản số 1471/CNVPĐK-ĐKCG ngày 18/4/2022 trả lời đơn của ông Lâm Kim S với nội dung không có cơ sở giải quyết do không nhận được tài liệu liên quan đến việc hoãn thi hành bản án, tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 112/2018/DS-PT ngày 24/5/2018 và đề nghị công dân gửi đơn đến TAND để được xem xét, hướng dẫn giải quyết theo quy định của pháp luật (trên cơ sở Phiếu hướng dẫn số 3076/PHD-UBND ngày 07/4/2022 của UBND Thành phố kiến nghị việc chưa đồng ý giải quyết cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Tân K).
Thông báo số 302/TB-CNVPĐK ngày 20/4/2022 thông báo về hướng giải quyết hồ sơ của ông K đến các ông bà: Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị Ngọc T, Nguyễn Quế L trong thời gian đến hết ngày 29/4/2022 để có phản ánh hoặc kiến nghị. Tuy nhiên, sau đó Chi nhánh Văn phòng Đ không nhận được phản ánh của các ông bà có tên trên về nội dung này.
- Việc giải quyết đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị D:
Sau khi bà Nguyễn Thị D có đơn đề nghị xem xét việc cấp Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Tân K nêu trên, UBND thành phố V đã có văn bản số 11785/UBND-TNMT ngày 30/12/2022, số 660/UBND-TNMT ngày 10/02/2023 trả lời bà D.
- Ý kiến đối với nội dung khởi kiện:
UBND thành phố V không có ý kiến đối với nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Ngọc T. Đồng thời UBND thành phố V cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan và đề nghị TAND thành phố Vũng Tàu xem xét giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.
* Tại Văn bản số 6390/CNVPĐK-ĐKCG ngày 17 tháng 11 năm 2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V trình bày như sau:
- Việc đã tống đạt hợp lệ Thông báo số 302/TB-CNVPĐK ngày 20/4/2022 của Chi nhánh gửi cho các ông, bà có liên quan gồm: bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Quế L chưa? (nếu có xin sao lục Biên bản giao nhận, Biên bản niêm yết hoặc hình thức giao khác nếu giao nhận qua thư điện tử):
Nội dung này, bộ P của Chi nhánh có Sổ theo dõi việc ký nhận và bàn giao với Bưu điện thành phố V. Kể từ thời điểm ngày 20/4/2022 Chi nhánh ký giao cho Bưu điện đến khi Chi nhánh đề xuất tham mưu giải quyết hồ sơ cho ông Nguyễn Tân K thì Chi nhánh không nhận lại thông báo nêu trên từ Bưu điện (đối với trường hợp thư gửi đi bị trả lại do các nguyên nhân khác nhau); Chi nhánh có gửi kèm theo bản photo có đóng dấu của Chi nhánh.
- Nội dung trường hợp diện tích đất các hộ đã được công nhận bằng bản án có hiệu lực pháp luật (như trên) thì hạn mức diện tích đất ở tối thiểu để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
Bản án số 112/2018/DS-PT ngày 24/5/2018 của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 06/2022/HC-ST v/v “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đều không tuyên xử việc xác định loại đất khi cấp Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất, chỉ buộc Ủy ban nhân dân thành phố V làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Tân K đối với diện tích 4.987,2m² thuộc thửa đất số 05 (mới 28+30), tờ bản đồ 02 (mới 55) tại số F đường V, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định của Pháp luật.
Việc giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (lần đầu) cho người sử dụng đất là Chi nhánh căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Đối với trường hợp của ông Nguyễn Tân K, qua xem xét giấy tờ, tài liệu nộp kèm theo hồ sơ thì Chi nhánh căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, khoản 5 Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, điểm đ, khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ thì trường hợp của ông Nguyễn Tân K đủ điều kiện giải quyết thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 4.884,0m² (gồ m 750,0m² đất ở và 4.134,0m² đất trồng cây lâu năm), thuộc tờ bản đồ 55 mới, thửa đất số 28 mới tại Phường A, thành phố V là phù hợp.
Căn cứ để xác định diện tích 750,0m² đất ở: Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013; Văn bản số 1681/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 31/8/2016 của T6 - Bộ T7; điểm a, khoản 2 Điều 2 Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 19/5/2014 của UBND tỉnh B; lý do: xác định vị trí căn nhà xây dựng năm 1975 theo Giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà số 311 ngày 05/01/1978 nằm tại vị trí thửa đất ông K đang lập thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận.
Liên quan đến việc cấp diện tích 750,0m² đất ở cho ông Nguyễn Tân K, Chi nhánh đã có Thông báo số 302/TB-CNVPĐK ngày 20/4/2022 gửi cho các ông, bà có liên quan gồm: bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Quế L để biết. Trường hợp các ông, bà trên có ý kiến, kiến nghị hay thắc mắc gì thì liên hệ Chi nhánh để được giải quyết theo quy định, thời gian đến hết ngày 29/4/2022.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm Chi nhánh ban hành Thông báo cho đến ngày trình UBND thành phố V ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tân K (ngày 16/5/2022) thì các ông (bà) có tên nêu trên không có ý kiến, kiến nghị hay thắc mắc gì.
(Chi nhánh xác định tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận 1 cửa thuộc HĐND và UBND thành phố V thì ông Nguyễn Tân K không nộp kèm theo Bản chính Văn bản thỏa thuận phân chia 750m² hạn mức đất ở (sao y hoặc photo) trong hồ sơ).
Qua rà soát hồ sơ địa chính và thông tin trên hệ thống dữ liệu phần mềm Vilis 2.0 tại Chi nhánh thể hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 032307 do UBND thành phố V cấp ngày 17/5/2022 đứng tên ông Nguyễn Tân K với diện tích tích 4.884,0m² (gồm 750,0m2 ở tại đô thị và 4.134,0m² đất trồng cây lâu năm) thuộc tờ bản đồ số 55 mới, thửa số 28 mới, tại Phường A, thành phố V đã lập thủ tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc M - bà Nguyễn Thị T2 và được Chi nhánh ký xác nhận ngày 31/5/2022 tại trang 03 Giấy chứng nhận.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Khải Q1, bà Lương Thị N và bà Nguyễn Thị Ánh T3 trình bày: Bà Nguyễn Thị N1 là con của bà Nguyễn Thị Đ, bà N1 chết vào ngày 02/11/2021. Các đồng thừa kế của bà N1 gồm: ông Lương Khải Q1 là chồng, 02 con là Nguyễn Thị Ánh T3 và Lương Thị N. Bà N1 được chia thừa kế quyền sử dụng đất của bà Đ theo bản án đã tuyên nên quyền lợi của bà N1 trong việc hưởng đất ở trong tổng số 750m² theo quy định của pháp luật.
Quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất cho ông K thì: Trong văn bản số 660 ngày 10/2/2023 cho biết như sau: Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai thành phố V có ra Thông báo số 302 ngày 20/4/2022 gửi cho các ông, bà như bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Quế L để biết sự việc. Tuy nhiên văn bản thông báo này cho đến giờ, ông Q1 chưa nhận được.
Ông Q1 yêu cầu:
Để rút ngắn thời gian xét xử, xin hủy vấn đề hòa giải (dù có hòa giải cũng không thành), vấn đề này có thể hiện trong quá trình khởi kiện của bà D vì ông Q1 và bà D cùng chung một vụ án.
Buộc ông K trả lại 750m² đất thổ cư mà Luật pháp quy định trong đó có phần của bà Nguyễn Thị N1.
Đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Tân K vì ông K vi phạm Luật pháp với những tội danh sau đây:
Ông K qua mặt anh, chị, em trong gia đình để lập giấy chủ quyền sử dụng đất không cần thương lượng anh chị em;
Ông K chiếm đoạt 750m² đất thổ cư mà pháp luật quy định để buôn bán bất hợp pháp;
Riêng phần tuổi tác của ông Q1 thuộc trường hợp người cao tuổi tính từ 1950 đến 2024 thì ông Q1 được 74 tuổi, ở tuổi này được nhà nước cho miễn nộp tiền án phí.
Ngày 15/7/2024, ông Lương Khải Q1 yêu cầu bổ sung tăng hạn mức đất thổ cư của ông từ 100m² lên 166m² nhằm phù hợp với diện tích đất có nhà ở mà bà N1 được thừa kế là 166m².
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã quyết định như sau:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với ông Nguyễn Tân K về việc “Tranh chấp về đất đai”
Bà Nguyễn Thị D được hưởng hạn mức 200m² đất ở và bà Nguyễn Thị Ngọc T được hưởng hạn mức 100m² đất ở trong tổng số đất được phân chia thừa kế.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Lương Khải Q1, chị Nguyễn Thị Ánh T3 và chị Lương Thị N. Ông Lương Khải Q1, chị Nguyễn Thị Ánh T3 và chị Lương Thị N được hưởng hạn mức 100m² đất ở trong tổng số đất được phân chia thừa kế.
(Diện tích, vị trí đất của bà D, bà T, bà N1 được phân chia theo Bản án dân sự số 112/2018/DS-PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật).
Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022 của UBND thành phố V của ông Lương Khải Q1.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và ông Nguyễn Tân K.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và ông Nguyễn Tân K vô hiệu một phần tương ứng với hạn mức 400m² đất ở.
Buộc UBND thành phố V phải chỉnh lý giảm hạn mức đất ở của ông Nguyễn Tân K còn 350m² trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022.
Buộc ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 phải giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022 cho cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý.
Trong trường hợp ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 không giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 với diện tích 4.884m² thuộc tờ bản đồ 55 mới, thửa đất số 28 mới tại Phường A, thành phố V cho cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý diện tích giảm tương ứng với hạn mức đất ở công nhận cho bà D, bà T, ông Q1, chị N, chị T3 thì bà D, bà T, ông Q1, chị N, chị T3 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T4 giao Giấy chứng nhận trên để thi hành án.
Trong trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thì bà D, bà T, ông Q1, chị N, chị T3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 tương ứng với hạn mức đất ở là 350m².
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 30/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm để thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngày 06/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu có quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-DS, kháng nghị bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Xét kháng cáo, kháng nghị:
+ Về tố tụng: Tại Thông báo số 340/2023/TB-TA ngày 14/11/2023 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Biên bản công khai chứng cứ và hòa giải ngày 23/11/2023 thể hiện Tòa án không thông báo cho bà Nguyễn Thị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi thụ lý yêu cầu độc lập số 79/2024/TLST-DS ngày 19/4/2024, Toà án thành phố V không tiến hành công khai, chứng cứ và hòa giải là vi phạm quy định tại Điều 202 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
Hồ sơ thể hiện Tòa án đã gửi Thông báo mở lại phiên tòa số 171/2024/TB-TA ngày 04/7/2024 cho ông Nguyễn Mạnh H1 (là đại diện ủy quyền của ông M, bà T2), tuy nhiên không có chứng cứ nào thể hiện ông H1 đã nhận được Thông báo của Tòa án. Tại đơn trình bày đề ngày 31/7/2024, ông H1 khẳng định ông không nhận được Thông báo tham gia phiên tòa của Tòa án. Chính vì vậy, ông H1 đã đi công tác tại Cần Thơ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 25/7/2024.
+ Về nội dung: Bản án sơ thẩm buộc UBND thành phố V phải chỉnh lý giảm hạn mức đất ở của ông Nguyễn Tân K còn 350m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022 để công nhận hạn mức đất ở cho bà D, bà T, ông Q1, bà N, bà T3 cũng như việc không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Quốc M, bà Nguyễn Thị T2 là không phù hợp với quy định pháp luật, cụ thể:
Bản án sơ thẩm nhận định “Tại phiên tòa, ông Nguyễn Tân K xác định bà Nguyễn Thị Đ chỉ đóng thuế 300m² đất ở; vào thời điểm chuyển nhượng đất cho ông M thì đất ông K chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nên ông K chỉ thỏa thuận chuyển nhượng cho ông M những gì mình có nghĩa là chỉ chuyển nhượng 300m² đất ở” là không phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại Điều 1 Hợp đồng đặt cọc mua bán đất ngày 20/4/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Tân K và ông Nguyễn Mạnh H1 thể hiện diện tích chuyển nhượng theo diện tích Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Tân K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY032307 với tổng diện tích 4.884m²
trong đó có 750m² đất ở nên ông K chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận đã được cấp là hoàn toàn phù hợp với ý chí của các bên.
Qua sao lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K thể hiện không có văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền giao cho ông H1 Thông báo số 302/TB-CNVPĐK của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V, cũng như việc ông H1 biết có văn bản thỏa thuận phân chia hạn mức đất ở ngày 20/10/2021 mà từ chối không cung cấp. Mặt khác, tại Văn bản số 8931/UBND-TNMT ngày 13/11/2023 của UBND thành phố V cho rằng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V đã có văn bản đề nghị ông K bổ sung văn bản thỏa thuận phân chia diện tích 750m² đất ở (theo hạn mức) giữa những người được quyền sử dụng đất mà Tòa án đã tuyên. Đến ngày 26/5/2020, ông K bổ sung Văn bản từ chối thực hiện việc lập văn bản thỏa thuận phân chia đất ở. Tuy nhiên, Tòa án lại nhận định: “Ông H1 đã không cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan chức năng (bản chính Văn bản thỏa thuận phân chia 750m² hạn mức đất ở) dẫn đến việc UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Tân K với toàn bộ hạn mức 750m² đất ở là chưa đúng trình tự thủ tục làm ảnh hưởng quyền lợi của đương sự khác” là không phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ nhận định này dẫn đến việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M, bà T2.
Bản án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và ông Nguyễn Tân K vô hiệu một phần tương ứng với hạn mức 400m² đất ở nhưng hồ sơ không thể hiện Tòa án đã giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu để đương sự xem xét việc yêu cầu giải quyết hậu quả vô hiệu hay không là không tuân thủ đúng giải đáp tại Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao.
Những vi phạm như trên là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M bà T2, cần phải hủy án sơ thẩm để giải quyết lại.
Do đó kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Quốc M là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông M bà T2; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Huỷ Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét kháng cáo, kháng nghị:
Tại Thông báo số 340/2023/TB-TA ngày 14/11/2023 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và Biên bản công khai chứng cứ và hòa giải ngày 23/11/2023 thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo cho bà Nguyễn Thị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Sau khi thụ lý yêu cầu độc lập số 79/2024/TLST-DS ngày 19/4/2024, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành công khai, chứng cứ và hòa giải là vi phạm quy định tại Điều 202, 205, 208, 209, 210 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hồ sơ vụ án thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã gửi Thông báo mở lại phiên tòa số 171/2024/TB-TA ngày 04/7/2024 cho ông Nguyễn Mạnh H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Quốc M, tuy nhiên không có chứng cứ thể hiện ông H1 đã nhận được Thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm. Tại đơn kháng cáo và đơn trình bày đề ngày 31/7/2024, ông H1 cho rằng ông không nhận được thông báo tham gia phiên tòa của Tòa án, vì vậy ông H1 đã đi công tác tại Cần Thơ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 25/7/2024, không biết để tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (BL 323, 332).
Bản án sơ thẩm tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Quốc M với ông Nguyễn Tân K vô hiệu một phần tương ứng với hạn mức 400m² đất ở. Về nguyên tắc, khi tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì đồng thời phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự. Bản án sơ thẩm không giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhưng không giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu để đương sự xem xét việc yêu cầu giải quyết hậu quả vô hiệu là không bảo đảm giải quyết vụ án theo hướng dẫn tại mục 2 phần III Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao, chưa bảo đảm nguyên tắc giải quyết vụ án, chưa bảo đảm giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung khắc phục được nên hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại.
Từ nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Khi giải quyết lại vụ án, cần xem xét yếu tố ngay tình của bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M với ông Nguyễn Tân K về giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử vụ án “Tranh chấp về đất đai” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Ngọc T với bị đơn ông Nguyễn Tân K.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 không phải chịu. H2 lại cho ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000462 ngày 30/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng TàV, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tâm |
Bản án số 247/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp về đất đai
- Số bản án: 247/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị D đề nghị được hưởng hạn mức 200m2 đất ở và bà Nguyễn Thị Ngọc T được hưởng hạn mức 100m2 đất ở trong tổng số đất được phân chia thừa kế. NLQ ông Lương Khải Q1, chị Nguyễn Thị Ánh T3 và chị Lương Thị N. Ông Lương Khải Q1, chị Nguyễn Thị Ánh T3 và chị Lương Thị N đề nghị được hưởng hạn mức 100m2 đất ở trong tổng số đất được phân chia thừa kế. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022 của UBND thành phố V của ông Lương Khải Q1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và ông Nguyễn Tân K. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2022 ký kết giữa bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Quốc M và ông Nguyễn Tân K vô hiệu một phần tương ứng với hạn mức 400m2 đất ở. Buộc UBND thành phố V phải chỉnh lý giảm hạn mức đất ở của ông Nguyễn Tân K còn 350m2 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022. Buộc ông Nguyễn Quốc M và bà Nguyễn Thị T2 phải giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 032307 cấp ngày 17/5/2022 cho cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý.
