TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2024/DS-ST Ngày: 19 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long và ông Phan Đức Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXX-DSST ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân Hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng)
Địa chỉ: 2 N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn G - Chuyên viên Quản lý nợ
Địa chỉ: 1 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk (Đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Quang V
Địa chỉ: A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Văn G trình bày:
Ngày 23/12/2021, ông Nguyễn Quang V có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cùng bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Quang V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Quang V đã thực hiện các giao dịch rút tiền với tổng số tiền gốc nêu trên là 40.000.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Quang V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó ông Nguyễn Quang V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 19/9/2024, ông Nguyễn Quang V còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc 40.00.000 đồng; Lãi quá hạn và phí là 40.160.431 đồng. Tổng cộng số tiền phải trả: 80.160.431 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc nhắc nợ với ông Nguyễn Quang V, yêu cầu ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Nguyễn Quang V trả nợ, tuy nhiên ông Nguyễn Quang V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S chi nhánh Đ kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây:
Buộc ông Nguyễn Quang V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 80.160.431 đồng. Trong đó nợ gốc 40.00.000 đồng; Lãi quá hạn và phí là 40.160.431 đồng. Yêu cầu ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
2. Đối với bị đơn ông Nguyễn Quang V: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng tại nơi cư trú nhưng ông V không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký, đại diện của nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là vi phạm Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc ông Nguyễn Quang V phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ 80.160.431 đồng. Trong đó nợ gốc 40.000.000 đồng; Lãi quá hạn và phí tính đến ngày 19/9/2024 là 40.160.431 đồng và ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã kí kết; Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng tại nơi ông V cư trú nhưng ông V không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng được ký kết nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 20/12/2021, ông Nguyễn Quang V có ký với Ngân hàng TMCP S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cùng bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng với với số tiền đề nghị là 40.000.000đồng. Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Quang V, ngày 23/12/2021 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện giao dịch rút số tiền 40.000.000đồng nhưng chưa thanh toán lại cho ngân hàng số tiền trên. Như vậy ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Vì vậy ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V phải trả số tiền là 80.160.431đồng. Trong đó nợ gốc 40.000.000 đồng; Lãi quá hạn và phí là 40.160.431 đồng và yêu cầu ông Nguyễn Quang V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cùng bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở nên cần chấp nhận.
[4]. Về án phí: Ông Nguyễn Quang V phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi Cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 267, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
1. Buộc ông Nguyễn Quang V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ là 80.160.431 đồng. Trong đó nợ gốc 40.000.000 đồng; Lãi quá hạn và phí tính đến ngày 19/9/2024 là 40.160.431 đồng. Kể từ ngày 20/9/2024 ông Nguyễn Quang V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Quang V phải chịu 4.008.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 1.506.332 đồng do ông Lê Văn G đã nộp theo biên lai số 0005265 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 247/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 247/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín. 1. Buộc ông Nguyễn Quang Vũ phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương Tín tổng số tiền nợ là 80.160.431 đồng. Trong đó nợ gốc 40.000.000 đồng; Lãi quá hạn và phí tính đến ngày 19/9/2024 là 40.160.431 đồng. Kể từ ngày 20/9/2024 ông Nguyễn Quang Vũ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án dân sự.
