|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 247/2024/HS-PT Ngày 13 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến;
Ông Trần Vĩnh Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Tiến Đ (và đồng phạm); do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tiến Đ (và đồng phạm); kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh; kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
* Bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:
-
Lê Huy C, tên gọi khác: Tý cao; Sinh năm: 1976 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12;
Con ông Lê S (đã chết) và bà Võ Thị H, sinh năm 1952;
Vợ, con: không có;
Tiền án, tiền sự: Không.
*Nhân thân:
- Ngày 25/5/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”. Ngày 11/11/2004 được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra quyết định tạm đình chỉ và được trả về địa phương. Ngày 25/8/2005 được đặc xá tha tù trước thời hạn.
-
- Ngày 21/9/2017, có hành vi tổ chức đánh bạc nhưng được Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự do chính sách hình sự mới của Nhà nước.
- Ngày 28/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 01 năm tù về tội “Đánh bạc”, buộc chấp hành hình phạt chung là 02 năm tù. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 28/4/2023 được tại ngoại, đến ngày 10/11/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay.
Huỳnh Tiến Đ, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1970 tại Đồng Nai;Nơi cư trú: khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12;
Con ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1938;
Vợ tên Phan Thị Kim H2, sinh năm 1972, có 01 con sinh năm 1993;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Thanh N, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1985 tại Hậu Giang;
Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12;
Con ông Nguyễn Văn Ở, sinh năm 1963 và bà Cao Thị X, sinh năm 1959;
Vợ tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 2000, có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Thanh Q, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1980 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa;
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12;
Con ông Nguyễn N1, sinh năm 1945 và bà Phạm Thị Minh T1, sinh năm 1948;
Vợ tên Võ Thị Hoàng D, sinh năm 1983, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Tuấn A, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989 tại Hậu Giang;
Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12;
Con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1966;
Vợ: không có (đã ly hôn với chị Trương Thị D1, sinh năm 1990), có 01 con sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/01/2019, bị Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã đóng phạt ngày 29/01/2019.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 28/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Hữu P, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi cư trú: Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 3/12;
Con ông Nguyễn T2, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Trần Thị B1, sinh năm 1937 (đã chết);
Vợ tên Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967 (đã chết), có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2003;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Thị V, tên gọi khác: Nguyễn Thị T4; Sinh năm: 1959 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật;
Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 3/12;
Con ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1920 (đã chết) và bà Đặng Thị S1, sinh năm 1937 (đã chết);
Chồng tên Lê Văn H3, sinh năm 1956, có 04 con, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1994;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
-
Nguyễn Thị L1, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1969 tại Hưng Yên;
Nơi cư trú: Ấp B, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật;
Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 5/12;
Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nông Thị T5, sinh năm 1951;
Chồng tên Phan Thanh H4, sinh năm 1964, có 01 con sinh năm 1995;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội đánh bạc.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 được tại ngoại.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Vào khoảng 15 giờ ngày 25/3/2023, Lê Huy C đến chợ X1 mua 01 tấm bạt màu xanh kích thước 03m x 02m và 01 bộ dụng cụ để lắc tài xỉu, sau đó đến bãi đất trống phía sau chợ X1 làm cái chơi tài xỉu thắng thua bằng tiền với Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Thanh Q.
Hình thức chơi lắc “T6, xỉu” như sau: Người làm cái sử dụng 01 cái ca nhựa úp vào 01 cái đĩa sứ màu trắng, bên trong có 03 hột xí ngầu, hình lập phương 6 mặt, mỗi mặt có số nút từ 1 đến 6 để lắc, sau khi lắc xong thì người làm cái đặt ra giữa chiếu bạc cho các nhà con đặt tiền tùy ý từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng vào trong ô tài nằm bên tay phải hoặc ô xỉu nằm bên tay trái người làm cái. Khi các con bạc đặt tiền xong, người làm cái sẽ mở ra để xem kết quả là tổng số điểm mặt trên của 03 hột xí ngầu, nếu kết quả là tài thì cái sẽ ăn tiền những người đặt vào ô xỉu, thua tiền người đặt ô tài và ngược lại, số tiền ăn hoặc thua tương ứng với số tiền người chơi đã đặt cược. Quy ước tài là khi tổng số nút trên 3 hạt xí ngầu từ 11 đến 17, xỉu là khi tổng số nút trên 3 hạt xí ngầu từ 04 đến 10. Ngoài ra, nếu các hột xí ngầu nằm đè lên nhau (hột kê) thì cái sẽ phải lắc lại, nếu 03 hột xí ngầu có số nút giống nhau (gọi là bão) thì cái sẽ thắng tiền tùy theo kết quả là tài hay xỉu.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an thành phố L bắt quả tang, thu giữ tiền trên chiếu bạc 4.000.000 đồng, thu trên người các đối tượng tham gia đánh bạc 68.930.000 đồng và các vật chứng khác liên quan đến việc đánh bạc. Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo dùng đánh bạc như sau:
- - Lê Huy C mang theo 33.300.000 đồng, dùng 1.500.000 đồng để đánh bạc, làm cái thắng được 1.600.000 đồng, trong số tiền 4.000.000 đồng thu giữ dưới chiếu bạc có 3.100.000 đồng của C. T1 trong người C 31.800.000 đồng là tiền dùng để mua hàng hóa.
- - Nguyễn Thanh Q mang theo 4.800.000 đồng, dùng 300.000 đồng để đánh bạc, thua 300.000 đồng, thu trong người Q 4.500.000 đồng là tiền dùng để buôn bán.
- - Huỳnh Tiến Đ mang theo 16.000.000 đồng, dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thua 300.000 đồng, trong 4.000.000 đồng thu giữ dưới chiếu bạc có 700.000 đồng của Đ, thu trong người Đ 15.000.000 đồng, trong đó có 14.000.000 đồng là tiền dùng để buôn bán.
- - Nguyễn Thanh N mang theo 9.500.000 đồng, dùng 500.000 để đánh bạc, quá trình đánh bạc không thắng, không thua. T1 trong người Nhớ 9.500.000 đồng là tiền dùng để thuê kiốt buôn bán.
- - Nguyễn Tuấn A mang theo 2.450.000 đồng và dùng toàn bộ để đánh bạc, thắng được 50.000 đồng, thu giữ trong người số tiền 2.500.000 đồng.
- - Nguyễn Hữu P mang theo 1.000.000 đồng, dùng hết để đánh bạc, thua 750.000 đồng, có 100.000 đồng đang đặt dưới chiếu bạc, thu giữ trong người Phước 150.000 đồng.
- - Nguyễn Thị V mang theo 3.100.000 đồng, dùng hết để đánh bạc, quá trình chơi thua hết 50.000 đồng, có 50.000 đồng đang đặt dưới chiếu bạc, thu giữ trong người số tiền 3.000.000 đồng.
- - Nguyễn Thị L1 mang theo 300.000 đồng, dùng toàn bộ để đánh bạc, quá trình chơi thua hết 200.000 đồng, có 50.000 đồng đang đặt cược tại chiếu bạc, thu giữ trên người 50.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người của các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.200.000 đồng.
- Về vật chứng:
Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 4.000.000 đồng, 01 ca nhựa, 01 cái dĩa sứ màu trắng, 03 hột xí ngầu và 30 miếng kim loại hình vuông, 01 tấm bạt màu xanh, kích thước 03mx02m có ghi các chữ số từ 06 đến 12.
Thu giữ của Lê Huy C 31.800.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 216, màu đen; Nguyễn Tuấn A số tiền 2.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A73, màu đen; Trần Minh H5 số tiền 30.000 đồng; Nguyễn Thanh N số tiền 9.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia N230, màu đen; Nguyễn Hữu P số tiền 150.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh dương; Huỳnh Tiến Đ số tiền 15.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh dương và 01 xe mô tô hiệu Vario, màu đen, biển số: 60B2-517.15; Nguyễn Thanh Q số tiền 4.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia N230, màu đen và 01 xe mô tô hiệu Wave @, màu xanh, biển số: 60U1-3176; Chung Thị Kim L2 số tiền 2.400.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54, màu xanh dương; Nguyễn Thị V số tiền 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu đen; Nguyễn Thị L1 số tiền 50.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả cho các bị cáo, anh Trần Minh H5, chị Chung Kim L2 các tài sản là điện thoại, xe môtô và tiền không liên quan đến hành vi phạm tội. Riêng 70.500.000 đồng được tiếp tục tạm giữ để phục vụ cho công tác xét xử.
Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKS-LK ngày 09/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo Lê Huy C cùng đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, đã Quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Huy C phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Lê Huy C 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 91/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, buộc bị cáo Lê Huy C chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2023, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị V cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
3. Kháng cáo:
- Ngày 28 tháng 12 năm 2023, bị cáo Huỳnh Tiến Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Ngày 29 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thanh Q kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Ngày 26 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Ngày 29 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thị L1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt tiền.
4. Kháng nghị:
- Ngày 02/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm số 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh: theo hướng xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, không áp dụng Điều 54 đối với các bị cáo; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1.
- Ngày 16/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị bản án sơ thẩm số 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh: theo hướng tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ và không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P.
5. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
* Về yêu cầu kháng cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trị an. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo Đ, Q, N, P và V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt các bị cáo mức án cơ bản phù hợp không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu.
Quá trình kháng cáo, bị cáo N không cung cấp tình tiết giảm nhẹ gì mới. Bị cáo Đ, Q, L1 cung cấp tình tiết mới, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, bố mẹ già và vợ bệnh tật.
* Xét kháng nghị của Viện kiểm sát thành phố L:
+ Về nội dung: Xét xử các bị cáo Lê Huy C, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị V và Nguyễn Hữu P theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, là chưa chính xác. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Huy C cùng đồng phạm theo điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS là có căn cứ pháp luật.
+ Về nội dung: Không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Hữu P dưới khung hình phạt theo quy định của pháp luật, là có cơ sở vì các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Về nội dung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1, là có căn cứ vì bị cáo L1 có nhân thân xấu, phạm tội với vai trò là người thực hiện hành vi phạm tội.
* Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
+ Về nội dung: Tăng hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, là có căn cứ vì các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù; là những người trực tiếp tham gia đánh bạc và chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Đ 10 tháng tù, N 08 tháng tù và Q 06 tháng tù (mức án dưới khung hình phạt) là vi phạm Điều 54 Bộ luật hình sự.
+Về nội dung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị L1, là có cơ sở vì Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị L1 có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc. Các bị cáo Tuấn A, L1 và Nguyễn Hữu P là những người trực tiếp tham gia đánh bạc, không phải là đồng phạm thứ yếu nhưng Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo Tuấn A, L1 mỗi bị cáo số tiền 30.000.000 đồng và Nguyễn Hữu P số tiền 25.000.000 đồng là vi phạm khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự (khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự không có hình phạt tiền).
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 và Điều 356, Điều 357, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đ, Q, N và L1.
- Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh về việc không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Hữu P dưới khung hình phạt theo quy định của pháp luật; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1;
- Rút 01 phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh về việc xét xử các bị cáo Lê Huy C, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị V và Nguyễn Hữu P theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xem xét nội dung này.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai theo hướng sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q và không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:
Khoảng 15 giờ đến 16 giờ 30 phút ngày 25/3/2023, tại bãi đất trống phía sau chợ X1, các bị cáo Lê Huy C, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L1 đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu. Toàn bộ số tiền các bị cáo mang theo trong người và ngồi tại chiếu bạc để đánh bạc được xem là tiền dùng đánh bạc, gồm: tiền thu trên chiếu bạc 4.000.000 đồng, tiền thu trong người C 31.800.000 đồng, tiền thu trong người Đ 15.000.000 đồng, tiền thu trong người Nhớ 9.500.000 đồng, tiền thu trong người Tuấn A 2.500.000 đồng, tiền thu trong người Phước 150.000 đồng, tiền thu trong người V 3.000.000 đồng, tiền thu trong người Lịch 50.000 đồng, tổng số tiền dùng đánh bạc là 70.500.000 đồng;
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2] Về kháng cáo, kháng nghị:
2.1. Cấp sơ thẩm xác định, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ, trừ C, Đ, Q, N, V khai báo không trung thực về tiền dùng đánh bạc thì các bị cáo còn lại đều thành khẩn khai báo, trừ C thì các bị cáo còn lại đều thể hiện thái độ ăn năn hối cải, trừ C, Tuấn A, L1 thì các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho từng bị cáo theo phân tích ở trên.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó C là người giữ vai trò cầm đầu, là người chuẩn bị công cụ phương tiện, làm cái cho các bị cáo khác tham gia chơi đánh bạc, C có nhân thân xấu, trong thời gian được tại ngoại để xét xử về hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc vào ngày 05/12/2022 thì lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, địa điểm đánh bạc là nơi công cộng đông người, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không biết ăn năn sửa chữa nên đối với C phải áp dụng hình phạt tù nghiêm và cao hơn các bị cáo khác.
Các bị cáo còn lại đều tham gia với vai trò thực hành, trong đó Đ, N, Q, V lần lượt có tiền dùng đánh bạc cao hơn so với những người còn lại, Tuấn A và L1 có tiền dùng đánh bạc ít nhưng nhân thân xấu, P là người có tiền dùng đánh bạc ít nhất trong cả nhóm.
2.2. Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Thị L1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt tiền.
+ Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Thị L1, Huỳnh Tiến Đ cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, được Chính quyền địa phương xác nhận là đúng.
2.3. Về hình phạt:
* Về kháng cáo: Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên; các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N không có tiền án, tiền sự; số tiền đánh bạc không lớn; ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo; Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đ, Q, N cho được hưởng án treo với thời gian thử thách theo quy định, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Thị L1 là người có nhân thân xấu từng bị xét xử 02 năm tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L1.
* Về kháng nghị:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai rút một phần kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đối với bản án sơ thẩm số 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, theo hướng xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; còn các phần khác vẫn giữ nguyên, là không áp dụng Điều 54 đối với các bị cáo, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1; do đó, đình chỉ một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh;
Việc cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 và xử dưới khung hình phạt đối với các bị cáo là không phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự, nên chấp nhận kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, đồng thời không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1.
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị bản án sơ thẩm số 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh; theo hướng tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ và không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P;
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Tuấn A có 01 tiền sự về tội đánh bạc; như nhận định trên, bị cáo Nguyễn Thị L1 là người có nhân thân xấu từng bị xét xử 02 năm tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc; nên không thể áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Tuấn A và L1;
Cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 và xử dưới khung hình phạt đối với các bị cáo là không phù hợp quy định pháp luật như nhận định trên, nên cần tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Hữu P;
Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[3] Về án phí:
Các bị cáo Lê Huy C, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm a, c khoản 2, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh Q, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L1; sửa về hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 181/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đình chỉ một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh theo hướng xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh theo hướng không áp dụng Điều 54 đối với các bị cáo, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L1.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
[2]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Huy C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Lê Huy C 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 91/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, buộc bị cáo Lê Huy C chấp hành hình phạt chung là 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2023, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 28/4/2023.
* Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Hữu P phạm tội “Đánh bạc”
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Tiến Đ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 13 tháng 6 năm 2024.
Giao bị cáo Huỳnh Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 13 tháng 6 năm 2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh N cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện P, tỉnh Hậu Giang nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 13 tháng 6 năm 2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 13 tháng 6 năm 2024.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu P cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
* Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
[3]. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị L1 phạm tội “Đánh bạc".
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4//2023.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4//2023.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Lê Huy C, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Thanh N, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Lê Bửu Thiện |
Bản án số 247/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 247/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội đánh bạc
