|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 247/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 12 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thanh Thuỷ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Phương, Bà Nguyễn Thị Túy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Toà án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 278/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/11/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 125/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 153/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1989; thường trú: 3/5 Cô B, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lợi Quốc H, sinh năm 1979; thường trú: 3/5 Cô B, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/7/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 218/2010, quyển số 01 ngày 08/9/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống với nhau, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung để giải quyết các vấn đề trong gia đình và cuộc sống. Mặc dù, bản thân bà G cố hàn gắn để giữ gìn tổ ấm nhưng đều không mang lại kết quả, mâu thuẫn giữa bà G và ông H không thể khắc phục và ngày càng trầm trọng hơn. Những mối bất đồng của bà G và ông H kéo dài đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của bà G và cả những người thân trong gia đình. Nay, bà G xác định tình cảm giữa vợ chồng giữa bà và ông H không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H có 02 con chung tên Lợi Gia B, sinh ngày 25/02/2011 và Lợi Gia Bảo H1, sinh ngày 06/06/2019, hiện các con chung đang sống cùng bà G, ông H. Sau khi ly hôn, bà G đồng ý giao hai con chung cho ông Lợi Quốc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà G không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 18/12/2025 bị đơn ông Lợi Quốc H trình bày:
Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông H, bà G có mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt và nuôi dạy con cái. Bà G đi làm từ sáng tới khuya rất thường xuyên và có khi đi vài ngày mới về, không chăm sóc con cái. Nay bà G nộp đơn yêu cầu ly hôn thì ông H không đồng ý, nếu bà G quyết tâm ly hôn thì ông H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Lợi Gia B, sinh ngày 25/02/2011 và cháu L Gia Bảo Hy, sinh ngày 06/06/2019 do từ khi cháu còn nhỏ đến lớn đều do ông H chăm sóc, nuôi nấng và ông H không yêu cầu bà G phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện ông H đang kinh doanh cửa hàng nhang đèn, vàng mã thu nhập khoảng 18.000.000 đồng/tháng.
Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H tại Ban điều hành khu phố B 1 và được cung cấp như sau: Ban điều hành khu phố Bình Minh 1 không nhận được thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H thì Ban điều hành khu phố B không biết được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lợi Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình tố tụng thể hiện bị đơn ông Lợi Quốc H có đăng ký thường trú và sinh sống tại địa chỉ số C Cô B, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 218/2010, quyển số 01 ngày 08/9/2010 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà G và ông H đều thừa nhận, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn trong quá trình chung sống. Bà G cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung để giải quyết các vấn đề trong gia đình và cuộc sống. Ông H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn trong quá trình sinh hoạt và nuôi dạy con cái, bà G đi làm từ sáng tới khuya rất thường xuyên và có khi đi vài ngày mới về, không chăm sóc con cái, tuy nhiên ông H không đồng ý ly hôn.
Xét: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Thực tế, ông H và bà G đã nảy sinh nhiều bất đồng trong cuộc sống hôn nhân như trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, mâu thuẫn trong sinh hoạt nhưng không tìm được tiếng nói chung để giải quyết. Ông H không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào lời khai của bà G và ông H thì thực tế cuộc sống vợ chồng của ông bà đã có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà G yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Giữa bà Nguyễn Thị G và ông Lợi Quốc H có 02 con chung là cháu Lợi Gia B, sinh ngày 25/02/2011 và cháu Lợi Gia Bảo H1, sinh ngày 06/06/2019. Khi ly hôn, ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét, hiện cả hai cháu đang sống cùng với ông H, cháu Gia B có nguyện vọng được sống cùng với ba, hiện nay ông H đang kinh doanh cửa hàng nhang đèn, vàng mã với thu nhập 18.000.000 đồng/tháng cùng thời gian linh hoạt nên có thể đảm bảo điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy các con. Đồng thời, bà G cũng đồng ý giao cả hai con chung cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Lợi Gia B và Lợi Gia B Hy cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lợi Quốc H không yêu cầu bà Nguyễn Thị G phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của ông H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Nguyễn Thị G đối với ông Lợi Quốc H.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đối với ông Lợi Quốc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Lợi Quốc H (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 218/2010, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 08/9/2010.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Lợi Gia B, sinh ngày 25/02/2011 và Lợi Gia Bảo H1, sinh ngày 06/06/2019 cho ông Lợi Quốc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
1.3. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lợi Quốc H không yêu cầu bà Nguyễn Thị G phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Lợi Quốc H phải tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị G thăm nom con, không ai có quyền cản trở bà Nguyễn Thị G thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
1.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009473 ngày 15/8/2025 của Chi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và bị đơn ông Lợi Quốc H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết./.
|
Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Thuỷ |
Bản án số 247/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 247/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
