TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:247/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thảo Vy và Ông Lê Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận -Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 190/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày và có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2002 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 22/01/1997, đã thành niên và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
*.Bị đơn ông Nguyễn Hữu L trình bày và có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu L thống nhất với nội dung bà bà Nguyễn Thị Cẩm T vừa trình bày nêu trên. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2002 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Cẩm T yêu cầu giải quyết cho ly hôn thì ông Nguyễn Hữu L đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm T .
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 22/01/1997, đã thành niên và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:
[2] Về tố tụng: Mặc dù phiên tòa được mở lần thứ nhất nhưng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T và bị đơn ông Nguyễn Hữu L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 26/3/2025, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L nên Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L.
[3] Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay, không có tổ chức lễ cưới, nhưng ông bà vẫn không tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L đã vi phạm điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đến mâu thuẫn trong hôn
nhân, mà áp dụng Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L.
[4] Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Nguyễn Thanh P, lời trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L thì bà T và ông L có con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 22/01/1997, đã thành niên và có khả năng lao động được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Theo trình bày của bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L về tài sản chung và nợ chung là không có nên bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí: bà Nguyễn Thị Cẩm T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L.
- Về nuôi con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 22/01/1997, đã thành niên và có khả năng lao động được.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009415 ngày 5 tháng 3 năm 2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Cẩm T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hữu L vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Trung Thành | Lương Thảo Vy | Nguyễn Võ Việt Nam |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
- - VKSND huyện Châu Phú;
- - Chi Cục THADS huyện Châu Phú;
- - UBND xã Bình Long, UBND xã Bình Mỹ;
- - Các đương sự (để thi hành);
- - Lưu hồ sơ, Vp./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Việt Nam |
Bản án số 247/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 247/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
