TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 247/2025/DS-PT Ngày: 24 – 6 - 2025 “Tranh chấp đòi lại tài sản”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
Bà Lê Kim Đó
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tấn Khải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: A, tổ B, khu phố F, phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai.
* Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978.
Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: 1, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1 bà H: Ông Nguyễn Khoa Q, luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung bản án sơ thẩm:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông T nhiều lần mua cám heo giúp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị Thu H nhưng ông T1, bà H chưa trả ông tiền cho ông. Vào ngày 01/10/2017 các bên đã nói chuyện, chốt lại số tiền còn nợ là 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng) và ghi giấy hẹn vào ngày hôm sau (tức 02/10/2017) sẽ trả số tiền trên cho ông T, bà H ký giấy xác nhận nợ. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay ông T có đòi nhiều lần nhưng ông T1, bà H không trả tiền cho ông T như đã thỏa thuận. Trong giấy nhận nợ chỉ có một mình bà H ký xác nhận nhưng thực chất là ông T mua cám heo giúp cho cả hai vợ chồng ông T1 và bà H.
Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên ông T làm đơn khởi kiện cầu Tòa án xem xét buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H có nghĩa vụ trả lại cho ông Tần số tiền nợ là 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng), ông T không yêu cầu tiền lãi suất.
Về khoản tiền ông T nợ ông T1 và bà H tại Bản án số 07/2019/DSST ngày 04/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa là một quan hệ vay khác, đã được giải quyết xong tại Bản án trên, không liên quan đến vụ án này.
* Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa trình bày:
Vợ chồng ông T1 bà H xác nhận có nhờ ông Nguyễn Văn T mua cám heo nhiều lần với tổng số tiền là 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Vào tối ngày 01/10/2017 các bên bắt đầu xảy ra mâu thuẫn và bà H đã viết giấy hẹn trả nợ cho ông T vào ngày 02/10/2017. Theo đúng như giấy hẹn, ngày 02/10/2017 vợ chồng ông T1 bà H đã trả hết số tiền trên cho ông T. Việc ông T1 bà H trả tiền cho ông T không viết giấy xác nhận nhưng có mặt ông Nguyễn Văn K và ông Đỗ Như N làm chứng.
Trước đây, ông T cũng nợ vợ chồng ông T1 bà H một số tiền và đã được giải quyết bằng Bản án số 07/2019/DSST ngày 04/4/2019 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, kết quả là ông T thua kiện. Nếu trường hợp tháng 10/2017 vợ chồng ông T1 bà H còn nợ tiền mua cám heo của ông T thì lý do vì sao ông T không thỏa thuận để cấn trừ nợ mà ông T1 bà H lại phải làm đơn khởi kiện ông T ra Tòa án, nay ông T1 bà H đề nghị Tòa án xem xét. Ông T1 bà H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:
Áp dụng vào Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35 và Điều 39, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H về việc “Đòi lại tài sản”. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H phải trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 số tiền 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu và thời hiệu thi hành án, quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 06/5/2025 ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án.
* Ý kiến tranh luận của Luật sư: Nguyên đơn khởi kiện không có căn cứ vì tại Biên bản làm việc của công an phường L ngày 09/11/2017 giải quyết khoản nợ giữa ông T và vợ chồng ông T1, H (đã được xét xử bằng bản án số 07/2019/DSST ngày 04/4/2019 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa) tại sao ông T không trình bày khoản nợ này để cấn trừ mà đến nay ông T mới khởi kiện là không hợp lý. Thực tế chị H đã trả tiền 45.686.000đ cho ông T có ông K và ông N chứng kiến nhưng do sơ suất chị hiền không thu lại giấy nợ, vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ.
Về đường lối giải quyết vụ án: cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ.
Bị đơn kháng cáo đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm là không có căn cứ và không phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông T1 bà H làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Tần số tiền nợ 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng) tiền mua cám heo giúp, ông T không yêu cầu tính lãi.
Ông T1 bà H thừa nhận ông T có mua cám heo giúp cho vợ chồng ông T1, bà H và giữa ông T và bà H có ký chốt lại số tiền còn nợ hẹn vào ngày 02/10/2017 bà H, ông T1 sẽ trả lại cho ông Tần số tiền trên. Ông T1, bà H cho rằng ông, bà đã trả cho ông Tần số tiền trên vào ngày 02/10/2017 có ông Nguyễn Văn K và ông Đỗ Như N chứng kiến. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 21/3/2025 của ông Nguyễn Văn K (là anh ruột của ông T1) và ông Đỗ Như N trình bày hai ông có thấy bà H đưa tiền cho ông T nhưng không biết số tiền cụ thể là bao nhiêu và đưa tiền gì, ông T không thừa nhận việc bà H có trả tiền và có sự chứng kiến của ông K, ông N. Tại phiên tòa sơ thẩm bà H cũng thừa nhận trong giấy chốt nợ là chữ ký của bà nhưng khi trả tiền xong thì bà không lấy lại giấy chốt nợ trên. Ngoài các lời trình bày trên, bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh là đã trả tiền cho nguyên đơn. Do đó, không có đủ cơ sở xác định ông T1, bà H đã trả cho ông Tần số tiền 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H có nghĩa vụ trả lại cho ông Tần số tiền trên là có cơ sở nên chấp nhận, buộc ông T1, bà H có trách nhiệm trả cho ông Tần số tiền 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Do ông T không yêu cầu tính lãi suất nên không xem xét.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông T1, bà H: Bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện yêu cầu khởi kiện và đánh giá chứng cứ đầy đủ khách quan. Việc bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật, ông T1, bà H kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông T1, bà H, vì vậy HĐXX phúc thẩm y án sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí: cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp luật.
[5] Về án phí DSPT: Do không chấp nhận kháng cáo của ông T1, bà H nên ông T1, bà H phải chịu án phí DSPT được trừ vào tạm ứng án phí ông T1, bà H đã nộp.
[6] Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1 bà H đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án sơ thẩm phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 bà Nguyễn Thị Thu H1;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Áp dụng Điều 26, Điều 35 và Điều 39, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H về việc “Đòi lại tài sản”
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H phải trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tần S tiền 45.686.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hết các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí DS-ST: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.284.000 đồng (Hai triệu, hai trăm tám mươi tư nghìn đồng).
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tần S tiền 1.412.150 đồng (Một triệu, bốn trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009486 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
Về án phí DSPT: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm mỗi người là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 7027, 7028 ngày 16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Thái Thị Thanh Bình |
Bản án số 247/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 247/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông T đòi lại tài sản của ông T1
