Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2024/HS-ST

Ngày: 11/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Như Hùng

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà My – Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 221/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Vũ Minh Q - Sinh năm: 2000; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố E, phường T, thị xã B, Bình Dương; Nơi ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Vũ Văn C (SN 1974); Con bà: Trịnh Thị Đ (SN 1979); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai ; Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ, ngày 08/8/2024. Tạm giam ngày 17/8/2024

Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ CA quận T

(Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Công ty cổ phần Đ1; Địa chỉ: Số H V, phường T, quận T, Tp ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đình M – chức vụ: Tổng giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Ngọc Q1 – Chức vụ: Nhân viên an ninh thuộc tổ an ninh 3 – Đội 3 – Ban An Ninh.

( Ông P vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1992; Địa chỉ: S đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

2. Anh Kiều Phúc T1 – sinh năm 2004; Địa chỉ: tổ dân phố D M, T, thị xã S, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

3. Anh Đỗ Hữu H – sinh năm 1966; Địa chỉ: Số G L, phường L, quận Đ, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 15/7/2024, Vũ Minh Q đến quán I (địa chỉ số A N, T, T, Hà Nội) chơi game và để chiếc ba lô của Q vào tủ để đồ. Lúc này, Q phát hiện tủ để đồ số 19 không khóa (chìa khóa vẫn căm ở ô khóa), bên trong có một túi đen kích thước 25x15x5cm của anh Kiều Phúc T1 (Sinh năm 2004, nơi ở: tổ dân phố D M, T, thị xã S, Hà Nội). Q nghĩ chiếc túi này là của khách hoặc nhân viên để quên nên đã cho chiếc ba lô của Q vào trong tủ để đồ số 19 đè lên chiếc túi màu đen trên rồi khóa tủ lại và chơi game tại quán từ khoảng 16 giờ 15 phút ngày 15/7/2024 đến khoảng 11 giờ ngày 16/7/2024. Sau khi thanh toán tiền chơi game, Q đến tủ để đồ số 19 mở tủ, lấy chiếc túi màu đen trên cho vào ba lô của Q, sau đó ra khỏi quán I và mở ra xem bên trong thấy có một khóa xe máy (dạng khóa thông minh) của xe H2, 01 ví da màu đen (bên trong ví có: số tiền 650.000 đồng, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 căn cước công dân số [...] đều mang tên Kiều Phúc T1, 01 vé gửi xe của bãi gửi xe H3 (địa chỉ: Số H V, T, T, Hà Nội). Lúc này, Q nảy sinh ý định sử dụng khóa xe máy để tìm xe của anh T1 tại bãi gửi xe H3. Khi đến bãi gửi xe máy trên, Q tìm được xe máy, mở cốp bên trong thấy có mũ bảo hiểm và áo khoác gió của anh T1. Đề điều khiến được xe máy của anh T1 qua cửa bảo vệ kiểm soát vé xe tưởng Q là anh Kiều Phúc T1. Q đã tạo ra thủ đoạn đánh lừa bảo vệ bằng cách đội mũ bảo hiểm, mặc áo khoác gió của anh T1 và sử dụng thẻ vé xe trên đưa cho anh Phạm Ngọc Q1 (sinh năm 2001, HKTT: Xóm G, Q,G, G, Nam Định) là bảo vệ của Ban an ninh công ty cổ phần Đ1 (địa chỉ: số H V T, T, Hà Nội) được giao nhiệm vụ kiểm soát vé xe ra vào tại cổng số 4 để chiếm đoạt chiếc xe trên. Sau khi chiếm đoạt được xe máy, Q điều khiến chiếc xe trên về nhà trọ tại địa chỉ: Số A ngõ A Pháo Đài L, phường L, Đ, Hà Nội, đến ngày 17/7/202, Q mang đến cửa hàng cầm đồ Hùng Mạnh số 686 L, L, Đ, Hà Nội của anh Nguyễn Cao H1 (Sinh năm: 1996, địa chỉ: Số C tổ D, phường L, Đ, Hà Nội) gặp chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1992, nơi ở: 998 đường L, L, Đ, Hà Nội) là nhân viên cửa hàng cầm đồ để cầm cố. Khi chị T hỏi Q về giấy tờ mua bán xe, Q nói mua chiếc xe này của người thân nên không có giấy tờ mua bán. Chị T yêu cầu Q chụp căn cước công dân của người bán thì mới đồng ý nhận cầm cố nên Q sử dụng điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 11 của Q chụp căn cước công dân của anh T1 gửi cho chị T qua ứng dụng zalo, chị T tin tưởng đồng ý nhận cầm cố chiếc xe trên và cho Q vay số tiền 8.000.000 đồng với lãi suất 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Sau đó Q tiếp tục liên hệ với chị T để thỏa thuận vay thêm số tiền 15.000.000 đồng. Đến ngày 19/7/2024, Q đến của hàng cầm đồ trên hủy giấy cầm đồ cũ, đồng thời ký với chị T giấy cầm đồ khác để vay số tiền 23.000.000 đồng và đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

Cơ quan công an thu giữ của Q: 01 chiếc túi màu đen; 01 ví da màu đen, 01 áo khoác gió màu đen, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Kiều Phúc T1, 01 Hợp đồng cầm đồ của cửa hàng cầm đồ số F đường L,L, Đ, Hà Nội, 01 hóa đơn cầm đồ của cửa hàng cầm đồ số G đường L, L, Đ, Hà Nội, số tiền 650.000 đồng.

Thu giữ của chị Nguyễn Thị T: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA VISION, màu đen, BKS: 29U1-525.48; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 mũ bảo hiểm màu đen.

Thu giữ của anh Đỗ Hữu H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Tphone 11 màu trắng, số imeil 356566103784765 (là diện thoại của Q mang đi cầm cố).

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Minh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 6049/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: số máy: JK03E8133214, số khung: RLHJK0356PY009030 của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, BKS: 29U1-525.48 là số máy, số khung nguyên thủy.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, BKS: 29U1-525.48, số máy: JK03E8133214, số khung: RLHJK0356P Y009030, đã qua sử dụng có trị giá 25.000.000 đồng.

Đối với 01 chiếc túi màu đen, 01 ví da màu đen, 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh đen và 01 chiếc áo khoác gió màu đen. Anh T1 khai do các tài sản trên khi mua không có giấy tờ mua bán, thời gian sử dụng đã lâu, không còn giá trị sử dụng nên không định giá được.

Đối với chị Nguyễn Thị T khi nhận cầm cố chiếc xe máy của Q chiếm đoạt. Chị T không biết chiếc xe do Q phạm tội mà có nên không đủ căn cứ xác định chị T có hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội hay có hành vi đồng phạm với Q. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Đối với số tiền 23.000.000 đồng do Q cầm cố chiếc xe trên để vay số tiền 23.000.000 đồng, ông Vũ Văn C (sinh năm 1976, nơi ở: Khu phố E, phường T, B, Bình Dương - là bố đẻ của Q) đã trả lại cho chị T. Chị T không có yêu cầu gì khác

Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 của Q dùng để chụp căn cước công dân của anh T1 gửi cho chị T cầm cố chiếc xe trên, sau đó mang cầm cố cho anh Đỗ Hữu H tại số G đường L, L, Đ, Hà Nội để vay số tiền 2.500.000 đồng, ông Vũ Văn C (là bố đẻ của Q) đã trả lại cho anh H, anh H không có yêu cầu gì khác. Khi nhận cầm cố chiếc điện thoại Iphone 11 của Q, do anh H không liên quan đến hành vi phạm tội của Q nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với hành vi Trộm cắp tài sản của Vũ Minh Q, do giá trị tài sản mà Q chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhân thân Q chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản và không có tiền án, tiền sự nên hành vi của Q không cấu thành tội phạm Trộm cắp tài sản quy định Điều 173 Bo Luật hình su. Do vậy, Cơ quan CSĐT- Công an quận T đã chuyển hồ sơ có liên quan đến Công an quận T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Minh Q về hành vi Trộm cắp tài sản, quy định tại Điểm a Khoan 1 Dieu 15 Nghi dinh s6 144/2021/ND-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, mức phạt 2.500.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám đen, đeo BKS 29U1-525.48; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29 000103; 01 (một) chiếc túi màu đen kích thước khoảng 20x15x5cm; 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) căn cước công dân số [...] và số tiền 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn), Cơ quan CSĐT- Công an quận T đã trả lại cho anh Kiều Phúc T1, anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác đối với Vũ Minh Q và anh Phạm Ngọc Q1. Anh Kiều Phúc T1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Vũ Minh Q.

Đối với việc anh Phạm Ngọc Q1 bị Q lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe trên, do tài sản đã được thu hồi và trả lại cho anh T1 là chủ sở hữu nên anh Q1 không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số máy MWLU2VN/A, số sê ri CTCZT2KGN736. Cơ quan CSĐT - Công an quận T chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân để giải quyết theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 205/CT-VKS ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Vũ Minh Q về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và khẳng định không bị oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Minh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có thái độ khai báo là thành khẩn, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 08 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về tang vật: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số máy MWLU2VN/A, số sê ri CTCZT2KGN736 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Minh Q tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, bản kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 15/7/2024, Vũ Minh Q mang theo chiếc ba lô đến quán I (địa chỉ số A N, T, T, Hà Nội) để chơi game. Khi Q đi cất chiếc ba lô vào tủ để đồ, Q phát hiện tủ đồ số 19 không khóa, bên trong có 01 túi màu đen của anh Kiều Phúc T1 nên đã mở tủ, lấy chiếc túi màu đen trên cho vào balo của Q. Đến khoảng 01 giờ ngày 16/7/2024, Q ra khỏi quán I mở túi ra phát hiện bên trong có 01 chìa khóa xe máy honda Vision BKS 29U1- 525.48, 01 ví da màu đen (bên trong có 650.000 đồng, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto, 01 căn cước công dân số 00120408161 đều mang tên Kiều Phúc T1 và 01 vé xem xe của bãi gửi xe H3 (địa chỉ: Số H V, T, T, H). Do muốn chiếm đoạt chiếc xe máy của anh T1 nên Q sử dụng khóa xe máy để tìm chiếc xe máy của anh T1 và thấy tại bãi gửi xe Hapulico. Q mở cốp xe máy phát hiện bên trong có mũ bảo hiểm, áo khoác gió. Để điều khiển được xe máy của anh T1 qua cửa bảo vệ kiểm soát vé xe tưởng Q là anh Kiều Phúc T1. Q đội mũ bảo hiểm, mặc áo khoác gió và sử dụng thẻ vé xe đánh lừa anh Phạm Ngọc Q1 là nhân viên soát vé khi qua cổng để chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Vision BKS 29U1-525.48 có trị giá 25.000.000 đồng. Sau đó, Q đã mang đi cầm cố cho chị Nguyễn Thị T lấy 23.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3]Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị hại có đơn yêu xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính và biện pháp chấp hành hình phạt:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội Hội đồng xét xử thấy Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt lớn nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt vì có tình tiết giảm nhẹ hình phạt như đã nêu trên.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về phần dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số máy MWLU2VN/A, số sê ri CTCZT2KGN736 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh Q phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Minh Q 10 (Mười) tháng Tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.

  3. Về phần dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.
  4. Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số máy MWLU2VN/A, số sê ri CTCZT2KGN736, số imeil 356566103784765.

    Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày.

  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Viện KSND quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hùng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 247/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 247/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Minh Q bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger