|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 6 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Ông Hà Thanh Khiết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Bùi Xuân Minh |
| Ông Huỳnh Văn Tới |
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thúy Vân - Thư ký Toà án.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
| Nguyên đơn: | Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt) |
| Bị đơn: | Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 (vắng mặt) |
| Cư trú tại: | Ấp E, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn Lê Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn N kết hôn vào năm 1989, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Nhận thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Về con chung: Thời gian chung sống bà và ông Nguyễn Văn N có 03 người con chung tên Nguyễn Văn M, sinh năm 1992, Nguyễn Văn T, sinh năm 2001, hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng. Riêng Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990 bị bệnh bẩm sinh, không tự nuôi sống được bản thân và đang sống chung với gia đình. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi Nguyễn Thị M1, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Thị M1.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Đ xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Đối với Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập Nguyễn Văn N hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng Nguyễn Văn N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; Bị đơn là ông Nguyễn Văn N có nơi cư trú tại huyện T nên bà Đ khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập Nguyễn Văn N hợp lệ đến lần thứ hai để đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng Nguyễn Văn N vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất cứ văn bản nào có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với việc đề nghị giải quyết vắng mặt của bà Lê Thị Đ, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[3] Nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án:
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1989, nhưng không đăng ký kết hôn. Mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo luật định.
Hội đồng xét xử xét thấy bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vì vậy mối quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông Nguyễn Văn N không có giá trị pháp lý. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn T1 căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên bố không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N là vợ chồng.
Về con chung: Bà Đ xác định bà và ông Nguyễn Văn N có 03 người con chung tên Nguyễn Văn M, sinh năm 1992, Nguyễn Văn T, sinh năm 2001, hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng. Riêng Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990 bị bệnh bẩm sinh, không tự nuôi sống được bản thân và đang sống chung với gia đình. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi Nguyễn Thị M1, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con đối với Nguyễn Thị M1. Hội đồng xét xử xét thấy Nguyễn Thị M1 là người bị bệnh bẩn sinh, không tự chăm sóc được bản thân và không tự nuôi sống được bản thân được bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc từ nhỏ. Hơn nữa Nguyễn Thị M1 là nữ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được nuôi con của bà Đ đối với Nguyễn Thị Đ1 là phù hợp với tình trạng của Nguyễn Thị M1 và điều kiện thực tế nên chấp nhận. Giao Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990 cho bà Lê Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tự chăm sóc được bản thân và tự lao động nuôi sống được bản thân.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Đ không yêu cầu ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này bà Đ và ông Nguyễn Văn N có phát sinh tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con thì bà Đ có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Bà Đ và ông Nguyễn Văn N xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà Đ và ông Nguyễn Văn N xác định vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng, không cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Nếu sau này bà Đ và ông Nguyễn Văn N có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì bà Đ và ông Nguyễn Văn N đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị Đ phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Các điều 9, 14, 51, 53, 58, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N không phải là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990 cho bà Lê Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tự chăm sóc được bản thân và tự lao động nuôi sống được bản thân.
Ông Nguyễn Văn N không chưa phải cấp dưỡng nuôi con đối với con chung của ông và bà Lê Thị Đ tên Nguyễn Thị M1, sinh năm 1990.
Ông Nguyễn Văn N không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.
3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Buộc bà Lê Thị Đ phải chịu 300.000 đồng. Ngày 10 tháng 4 năm 2024 bà Lê Thị Đ đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004839 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được đối trừ. Bà Lê Thị Đ đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |
Bản án số 247/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 247/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Tuyên bố bà Lê Thị Đẹp và ông Nguyễn Văn Nhu không phải là vợ chồng. 2. Về con chung: Giao Nguyễn Thị Muội, sinh năm 1990 cho bà Lê Thị Đẹp trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tự chăm sóc được bản thân và tự lao động nuôi sống được bản thân. Ông Nguyễn Văn Nhu không chưa phải cấp dưỡng nuôi con đối với con chung của ông và bà Lê Thị Đẹp tên Nguyễn Thị Muội, sinh năm 1990. Ông Nguyễn Văn Nhu không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.
