|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/8/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về chia tài
khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm.
Ông Nguyễn Đức Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 12/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022, về việc “Ly hôn” và thụ lý bổ sung số 12A/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về yêu cầu “chia tài sản khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1971. Quốc tịch Anh.
Địa chỉ: .. đường P, K, TN9 2BP, Vương quốc Anh. Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Th về việc giải quyết tài sản và giao nhận các văn bản tố tụng: Ông Chu Thanh Nh, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 10/3/2023). Có mặt.
-
Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn Tr, xã Ng, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị xét xử văng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H: Anh Nguyễn Ngọc Ch và Nguyễn Xuân Th – Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng - Công ty TNHH MTV I... Địa chỉ trụ sở chính: Xóm 6, thôn B, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ chi nhánh: 25 Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Ngọc A– sinh năm 1992 và chị Tạ Thị T– sinh năm 1996. Địa chỉ: Căn hộ tầng 1, ngôi 2, số 20 Đ, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Trần Thị Th trình bày: Vợ chồng chị kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 30/01/2019. Trước khi kết hôn vợ chồng có quen biết và tìm hiểu nhau ở vương quốc Anh. Sau khi kết hôn thì anh H sinh sống ở Hải Dương, còn chị sinh sống ở 20 Đ, phường Quán Thánh, TP Hà Nội, đến khoảng tháng 3/2019 chị sang Vương quốc Anh sinh sống còn anh H vẫn ở Việt Nam. Vợ chồng chỉ ở chung với nhau được vài ngày ở Hà Nội. Đến 23/9/2022 thì chị về Việt Nam nhưng vợ chồng không ở với nhau. Trong thời gian ở nước ngoài thỉnh thoảng vợ chồng có liên lạc và anh H bảo chị làm thủ tục bảo lãnh cho anh H và các con riêng sang nước ngoài, tuy nhiên do anh H không có đủ tiền chuyển cho chị làm thủ tục, hơn nữa do dịch bệnh nên không đủ thời gian làm thủ tục nên chị không đưa anh H và các con riêng sang nước ngoài được. Từ đó anh H chửi và xúc phạm chị. Nay chị Th xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể chung sống được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H theo quy định của pháp luật.
Về con chung, tài sản chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết..
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, đơn đề nghị phân chia tài sản khi ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Văn H trình bày: Về điều kiện kết hôn như chị Th trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng nhau khoảng 1 tháng thì chị Th đi sang Vương Quốc Anh sinh sống, còn anh vẫn ở Việt Nam, khi đó chị Th có nói làm thủ tục để bảo lãnh ba bố con anh sang Anh sinh sống nhưng cho đến nay không thực hiện được. Cuối năm 2019 thì chị Th về Việt Nam và vợ chồng sinh sống với nhau được khoảng gần 2 tháng thì chị Th lại tiếp tục đi nước ngoài đến tháng 11/2022 về Việt Nam. Thời gian trước đó vợ chồng vẫn liên lạc, nhắn tin cho nhau. Anh H xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp, chị Th không chung Th và nhiều lần có hành vi bạo lực với bố con anh. Anh xác định tình cảm không còn nên nhất trí ly hôn.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng, theo đơn yêu cầu và quá trình giải quyết vụ án anh H đề nghị:
Đối với số tiền đã đưa cho chị Th gồm:
Ngày 16 tháng 1 năm 2018 (âm lịch) tại gia đình anh ở Đội 2, Tr, Ng, N, Hải Dương anh có đưa trực tiếp cho chị Th số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) để mua xe máy SH Mode, chị Th mua hết hơn 70.000.000đ, còn 30.000.000đ chị Th giữ. Xe đăng ký tên chị Th. Cuối năm 2022 anh đã lấy chiếc xe này và bán được 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng), anh đã sử dụng hết số tiền đã bán xe. Anh đề nghị chị Th phải trả cho anh 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) còn thừa khi mua xe. Đối với số tiền 70.000.000đ khi mua xe anh H không đề nghị Tòa án giải quyết. Chiếc xe máy SH Mode anh H đã bán, do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ tháng 5/2015 đến tháng 3/2017 khi anh H, chị Th ở Vương quốc Anh, anh có đưa nhiều lần cho chị Th với tổng số tiền là 800.000.000đ nên yêu cầu chị Th phải có trách nhiệm trả cho anh số tiền này.
Từ năm 2017 đến năm 2022 anh có đưa cho chị Th nhiều lần tiền mỗi lần 20.000.000đ, có lần 50.000.000đ, có lần 70.000.000đ không nhớ cụ thể, tổng khoảng 200.000.000đ. Mục đích đưa cho chị Th giữ và làm thủ tục bảo lãnh cho ba bố con anh sang Vương Quốc Anh. Khi đưa tiền không làm giấy tờ biên nhận gì. Nay anh đề nghị chị Th phải trả số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
Anh H đưa tiền cho chị Th làm nhiều đợt trước và sau khi kết hôn với tổng số tiền là 498.000.000đ (Bốn trăm chín mươi tám triệu) để làm thủ tục bảo lãnh cho anh H sang vương quốc Anh sinh sống, khi đưa tiền không có giấy tờ gì. Toàn bộ nguồn tiền trên là của cá nhân anh chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà có. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Th phải trả số tiền 470.000.000₫ (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng), không tính lãi suất.
Đối với số tiền mua nguyên vật liệu, công sức làm nhà cho anh Ngọc A và chị Tạ Thị T(con trai và con dâu chị Th).
Khi anh Lưu Ngọc Avà chị Tạ Thị Txây nhà ở Đông Anh, Hà Nội hết số tiền 2.600.000.000đ, vợ chồng anh Ngọc Anh bỏ ra 600.000.000đ, còn lại anh H và chị Th góp tiền, công sức để xây nhà, cụ thể anh góp số tiền là:
-Khoảng tháng 6 năm 2018 tại số 20 Đ, Đống Đa, Hà Nội anh H có đưa cho chị Th 20.000.000₫ (Hai mươi triệu) để trả tiền thiết bị vệ sinh của nhà anh Ngọc Anh, chị Tuyết. Khi đưa tiền không có giấy tờ gì, anh yêu cầu chị Th phải thanh toán trả tiền này cho anh.
-Từ năm 2018 đến năm 2020 anh Lưu Ngọc Avà Tạ Thị T làm nhà riêng ở bên Đ, Hà Nội. Khi đó anh H có bỏ ra khoảng hơn 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) trả giúp cho vợ chồng anh Anh, chị Ttiền mua vật liệu, mua đồ nội thất, thiết bị vệ sinh, tiền gỗ cánh cửa, mái tôn, cổng, lan can...có hóa đơn kèm theo. Nay anh H đề nghị vợ chồng anh Anh, chị Tphải trả hết số tiền khoảng 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), không tính lãi. Chị Th là mẹ đẻ của anh Anh thì phải có trách nhiệm cùng trả số tiền trên.
Ngày 21/7/2023 anh H khẳng định quan điểm giải quyết về tài sản vụ án gồm:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Th trả các tài sản sau:
- Số tiền 800.000.000 đồng mà anh H có được trong thời gian lao động tại Anh Quốc (từ tháng 5/2015 đến tháng 3/2017).
- Số tiền là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) còn thừa khi mua xe máy.
Yêu cầu chị Th phải trả cho anh H số tiền là 1.000.000.000 đồng, gồm:
- Khoản tiền anh H đã đưa cho chị Th để làm thủ tục bảo lãnh cho bố con anh đi nước ngoài 498.000.000 đồng.
- Khoản tiền anh H bỏ ra để mua nguyên vật liệu cho anh Anh và chị Tlần 1 là 220.000.000đ và lần 2 đưa 20.000.000₫ để trả tiền thiết bị vệ sinh. Tổng 240.000.000đ;
- Công sức anh H đứng ra quản lý, trông coi xây dựng nhà cho vợ chồng Anh, Tở Đông Anh là 102.000.000 đồng.
Ngoài ra, anh H không yêu cầu khoản tiền nào khác.
Tại biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tạ Thị Tvà anh Lưu Ngọc Atrình bày: Vợ chồng anh chị là người trực tiếp bỏ chi phí xây dựng nhà ở. Anh H tự nguyện đến trông nom công trình. Vợ chồng anh không thuê, không nhờ anh H. Khi anh H đến, thỉnh thoảng vợ chồng anh có nhờ anh H đi nhận hộ vật liệu xây dựng, còn tiền do vợ chồng anh chuyển khoản, một số thì đưa tiền mặt cho anh H đi lấy vật liệu hộ. Đối với số tiền 200 triệu là do mẹ anh chị (chị Th) bảo cầm hộ để trả chi phí làm thủ tục cho bố con anh H sang Anh nên anh chị có cầm hộ và trả cho mẹ (Chị Th). Anh Ngọc Anh và chị Tkhông chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh H.
Sau khi Tòa án thụ lý yêu cầu chia tài sản của anh H, chị Th có quan điểm: Không nhất trí toàn bộ yêu cầu của anh H. Đối với số tiền anh H đưa 200 triệu để làm thủ tục đi nước ngoài, chị đã sử dụng cho việc chi phí làm lệ phí bay đi và về giữa Việt Nam và Anh, lo các giấy tờ thủ tục khác nên đã sử dụng hết. Việc không đi nước ngoài được là do anh H không chuyển tiếp tiền làm nốt thủ tục và một phần do dịch bệnh (năm 2021-2022) nên không đi được. Do vậy chị không chấp nhận trả số tiền này. Đối với các yêu cầu chi phí về việc xây dựng nhà cho anh Ngọc Anh và chị Tuyết, không liên quan đến chị nên không chấp nhận.
Kết quả xác minh tại UBND tại xã Ng, huyện N thể hiện anh H và chị Th kết hôn hợp pháp và có đăng ký kết hôn theo quy định, Sau khi kết hôn sinh sống ở địa phương một thời gian ngắn sau đó vợ chồng không ở địa phương. Nay chị Th có đơn ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị Th vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời giữ nguyên yêu cầu đã trình bày. Người đại diện hợp pháp của chị Th đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với yêu cầu giải quyết về tài sản của anh Phạm Văn H.
Anh Phạm Văn H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong đơn anh H xác định giữa anh và chị Th đã mâu thuẫn căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị Th. Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản: Tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H vắng mặt và gửi đơn đề nghị trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân. Đề nghị giải quyết cho anh H ly hôn chị Th. Về con chung, không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản: Đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu cầu giải quyết tài sản của anh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật HN&GĐ, Điều 147, Điều 217 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận xử cho chị chị Trần Thị Th được ly hôn anh Phạm Văn H; Đình chỉ yêu cầu của anh H về yêu cầu giải quyết tài sản riêng; Về án phí: Chị Trần Thị Thuỷ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn (chị Thuỷ đã nộp). Trả lại anh H số tiền tạm ứng án phí chia tài sản đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Th quốc tịch Anh và sinh sống tại Vương Quốc Anh, bị đơn anh Phạm Văn H sinh sống tại Ng, huyện N, tỉnh Hải Dương. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong thời gian về Việt Nam chị Th gửi đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án tỉnh Hải Dương, sau đó ủy quyền cho ông Chu Thanh Nh thay mặt chị giải quyết về phần tài sản và giao nhận các văn bản tố tụng (Việc ủy quyền đã được ghi lại quan điểm của các bên tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh). Chị Th đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 30/01/2019. Trước khi kết hôn vợ chồng có quen biết và tìm hiểu nhau ở vương quốc Anh. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng nhau đến khoảng tháng 3/2019 chị Th sang Vương quốc Anh sinh sống còn anh H vẫn ở Việt Nam. Đến 23/9/2022 thì chị về Việt Nam nhưng vợ chông không ở với nhau. Trong thời gian ở nước ngoài thỉnh thoảng vợ chồng có liên lạc nhưng thường cãi nhau, không còn tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Anh H xác định tình cảm không còn nên nhất trí ly hôn. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân từ lâu không ai quan tâm tới ai. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Trần Thị Th ly hôn anh Phạm Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Th, anh H xác định không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Th và anh H xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2.4] Về tài sản riêng anh H yêu cầu chị Th phải trả cho anh là 1.000.000.000 đồng, gồm: Khoản tiền anh H đã đưa cho chị Th để làm thủ tục bảo lãnh đi nước ngoài 498.000.000 đồng. Khoản tiền anh H bỏ ra để mua nguyên vật liệu cho anh Anh và chị Tlà con trai và con dâu chị Th là 240.000.000đ; Công sức anh H đứng ra quản lý, trông coi xây dựng nhà cho vợ chồng Anh, Tở Đông Anh là 102.000.000 đồng. Số tiền 800.000.000 đồng mà anh H có được trong thời gian lao động tại Anh Quốc (từ tháng 5/2015 đến tháng 3/2017) đã đưa cho chị Th. Số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) còn thừa khi mua xe máy. Nay anh H tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu trên. HĐXX xét thấy việc rút yêu cầu của anh H là tự nguyện, do vậy, căn cứ Điều 217, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh H về việc giải quyết quan hệ tài sản. Anh Phạm Văn H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại vụ án về quan hệ tài sản của vợ, chồng theo quy định của pháp luật.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình). Anh H tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu giải quyết về tài sản nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí chia tài sản. Như vậy là phù hợp với quy định tại Điều 147, 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27, khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 217, 218, 147, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27, khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Th ly hôn anh Phạm Văn H.
-
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh Phạm Văn H theo thông báo thụ lý số thụ lý bổ sung số 12A/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về yêu cầu “chia tài sản khi ly hôn” gồm: Khoản tiền anh H đã đưa cho chị Th để làm thủ tục bảo lãnh đi nước ngoài 498.000.000 đồng. Khoản tiền anh H bỏ ra để mua nguyên vật liệu cho anh Lưu Ngọc Avà chị Tạ Thị Tlà 240.000.000đ; Công sức anh Phạm Văn H quản lý, trông coi xây dựng nhà cho vợ chồng anh Lưu Ngọc Anh, chị Tạ Thị Tở Đông Anh, Hà Nội là 102.000.000 đồng. Số tiền 800.000.000 đồng anh Phạm Văn H có được trong thời gian lao động tại Anh Quốc (từ tháng 5/2015 đến tháng 3/2017) đã đưa cho chị Th. Số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) còn thừa khi chị Trần Thị Th mua xe máy.
Anh Phạm Văn H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại vụ án về quan hệ tài sản của vợ, chồng theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí: Chị Trần Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003635 ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
Hoàn trả anh Phạm Văn H số tiền 33.450.000₫ (Ba mươi ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí chia tài sản đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0004417 ngày 29/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
-
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Trần Thị Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Phạm Văn H được quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Ngọc Anh, chị Tạ Thị Tcó quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) NGUYỄN MINH TÂN |
Bản án số 247/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 247/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chi Th có đơn khởi kiện ly hôn anh H
