Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2469/2024/DS-ST

Ngày : 14-6-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín

dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Lợi

2. Bà Nguyễn Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:

1710/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2650/2024/QĐXX-DSST ngày

03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3394/2024/QÐST-DS ngày

24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T;

Trụ sở: Số 91, Đường Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố

Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Huỳnh Thị Hà V, sinh năm 2001;

Điạ chỉ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà 793/49/1 đường Trần Xuân Soạn,

phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giấy ủy quyền ngày 20/01/2024 – Có đơn đề nghị vắng mặt.

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc B1, sinh năm 1968;

Địa chỉ: 58/23/5 Tân Lập 1, Tổ 9, Khu phố 3, phường Hiệp Phú, thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người

đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T– Bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:

Ngày 27/01/2021, bà Huỳnh Thị Ngọc B và Công ty T (Việt Nam) (sau đây

gọi tắt là Công ty T) ký đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 1982159

(sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) ngày 20/01/2021, về việc cấp tín dụng cho

bà B với khoản vay trị giá 52.750.000 đồng. Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo

ngày giải ngân đến ngày 10/02/2024; Lãi suất vay hàng tháng: 4.17%/tháng

(tương ứng 50%/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 10 dương

lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 10/03/2021. Theo Hợp đồng tín dụng,

bà B có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.860.985 đồng từ ngày

10/3/2021 đến ngày 10/01/2024 và ngày 10/02/2024 với số tiền là 5.583.823 đồng.

Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín

dụng cho bà B.

Tuy nhiên, kể từ khi giải ngân đến nay, bà B1 chỉ thanh toán trả góp cho

Công ty T được 21 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 60.369.921 đồng, ngày

10/11/2022 là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 11/11/2022 đến nay, bà B đã

không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản

vay mà phía Công ty T đã giải ngân.

Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà B thực hiện nghĩa

vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề

nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà B biết về việc

hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà B vẫn không có bất

kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía

Công ty T1

Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bà B đã gây ảnh hưởng đến quyền và

lợi ích hợp pháp của Công ty T, do đó Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

- Buộc bà B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho công ty T1số tiền tạm tính

(do nợ lãi, phí vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày 14/6/2024 là 67.074.218 đồng,

trong đó:

+ Nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 32.805.329 đồng;

+ Lãi quá hạn chưa thanh toán: 12.652.284 đồng;

+ Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 20.253.151 đồng;

+ Lãi chậm trả: 1.363.454 đồng.

- Buộc bà B phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận

tại Hợp đồng tín dụng số 1982159 kể từ ngày 15/6/2024 cho đến ngày thực tế trả hết

nợ cho Công ty T

Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc B vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình

giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm

về việc giải quyết vụ án:

Qúa trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã

thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252,

253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Ngày 27/01/2021, nguyên đơn và bị đơn ký kết giấy đề nghị vay vốn kiêm

hợp đồng tín dụng (gọi tắt hợp đồng tín dụng) số 1982159 lập ngày 20/01/2021,

với nội dung: Công ty T cho khách hàng Huỳnh Thị Ngọc B vay số tiền

52.750.000 đồng; mục đích vay sửa nhà; thời hạn vay: 36 tháng, Thời hạn cho

vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 10/02/2024; Lãi suất vay hàng

tháng: 4.17%/tháng (tương ứng 50%/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh

toán: Ngày 10 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 10/03/2021. Bà

B có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.860.985 đồng từ ngày

10/3/2021 đến ngày 10/01/2024 và ngày 10/02/2024 với số tiền là 5.583.823 đồng.

Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín

dụng cho bà B. Việc thỏa thuận, ký kết giữa Công ty Tvà bà B phù hợp quy định

tại Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 BLDS 2015, Điều 91 của Luật Tổ

chức tín dụng. Do đó, Hợp đồng tín dụng 1982159 phù hợp quy định pháp luật,

hợp đồng có hiệu lực kề từ ngày ký và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã giải ngân đủ số tiền cho bà B, bà B đã

thanh toán được 21 kỳ, tiền gốc và lãi đã trả là 60.369.921 đồng. Từ kỳ thứ 22

(ngày 11/11/2022) đến nay, bà B không thanh toán tiền gốc cũng như lãi cho Công

ty T2 dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở. Như vậy, bà B đã vi phạm nghĩa vụ thanh

toán theo hợp đồng tín dụng số 1982159. Ngoài việc, phải trả nợ gốc chưa thanh

toán thì bà B phải chịu lãi trả nợ trễ hạn quy định tại mục 8.3 của hợp đồng tín

dụng mà hai bên đã thỏa thuận. Cụ thể, bà B phải chịu:

+ Tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 150% x (lãi suất tại thời điểm chuyển

nợ quá hạn) dư nợ gốc quá hạn) x số ngày trễ hạn/365)

+ Tiền lãi chậm trả: 10% x (số dư lãi chậm trả) x số ngày trễ hạn/365)

Bị đơn – Huỳnh Thị Ngọc B có thỏa thuận và ký nhận tại hợp đồng nhưng

không thực hiện đúng theo quy định tại hợp đồng đã ký, vi phạm nghĩa vụ thanh

toán trả nợ của bên vay. Bị đơn cũng không có mặt ở các buổi hòa giải, phiên họp

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không có bất kỳ ý kiến gì trong quá trình

giải quyết vụ kiện đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp

của mình.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín

dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015 thì có cơ sở

xác định yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Công ty T3 - bà Huỳnh Thị Ngọc B

thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh

đến thời điểm xét xử, đồng thời bà B phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức

lãi suất, phí thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 1982159 từ ngày xét xử cho đến

ngày thực tế trả nợ cho Công ty T4 có căn cứ.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên

đơn, buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số nợ gốc, lãi phát sinh theo

hợp đồng tín dụng đã ký kết; Bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho

Nguyên đơn cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.

Án phí sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của

đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi

kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín

dụng số 1982159 ngày 27/01/2021, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, do đó căn cứ điểm a

khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ

án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành

phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản

tố tụng mời đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy

nhiên bà B vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên

đơn Công ty T– Bà Huỳnh Thị Hà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa

án tiến hành xét xử vắng mặt bà B, bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong

hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:

Ngày 19/04/2024, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu

nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ

sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương

sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu

của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối

với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng

minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của

mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã

được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết

vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu

trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ

có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ gốc 32.805.329 đồng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 của Ngân hàng

T(Việt Nam) được thực hiện các hoạt động của Công ty tài chính tín dụng tiêu

dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N đó Công ty được cấp tín

dụng dưới hình thức cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát

hành thẻ tín dụng...

Ngày 27/01/2021, bà Huỳnh Thị Ngọc B đã ký với Công ty T5 vay vốn

kiêm hợp đồng tín dụng số 1982159 lập ngày 20/01/2021, với nội dung: Công ty

Tđồng ý cho bà B vay số tiền 52.750.000 đồng; Mục đích vay: Vay sửa nhà và

mua bảo hiểm người vay vốn/bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân; Thời hạn vay: 36

tháng; Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày

10/02/2024; Lãi suất vay hàng tháng: 4.17%/tháng (tương ứng 50%/năm, một năm

là 365 ngày); Kỳ thanh toán: Ngày 10 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán

đầu tiên: 10/03/2021. Như vậy, tại thời điểm ký kết đề nghị vay vốn kiêm hợp

đồng tín dụng số 1982159 ngày 27/01/2021, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn

tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp

luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 118;

Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

do đó có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.

Công ty T6 giải ngân số tiền 50.000.000 đồng theo Phiếu báo nợ ngày

11/10/2022 vào tài khoản số 16810000279671 của bà B mở tại Ngân hàng Đ thời

chuyển toàn bộ số tiền bảo hiểm 2.750.000 đồng cho Công ty cổ phần B3 (Căn cứ

Hợp đồng bảo hiểm số B/CFE05/809192376). Theo bảng tính lãi do nguyên đơn

cung cấp, quá trình thực hiện hợp đồng, bà B đã thanh toán cho Công ty T số tiền

60.369.921 đồng, trong đó: Nợ gốc: 19.944.671 đồng; Nợ lãi: 39.884.014 đồng;

Nợ phí: 240.308 đồng; Lãi chậm trả: 300.928 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa

thanh toán là 32.805.329 đồng.

Kể từ ngày 11/11/2022 đến nay bà B không thanh toán thêm bất cứ khoản

tiền nào cho Công ty T

Tại Đơn trình bày ngày 23/5/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn

bà Huỳnh Thị Hà V1 bày khi ký hợp đồng với khách hàng, phía công ty chỉ yêu

cầu khách hàng là người chịu trách nhiệm thanh toán khoản vay, không yêu gia

đình, người thân của khách hàng phải bảo lãnh hay có trách nhiệm trả thay số tiền

vay của khách hàng. Trừ trường hợp người thân, gia đình của khách hàng tự

nguyện trả thay cho khách hàng số tiền vay khi đến hạng thanh toán. Vì vậy nên

khoản vay giữa ông/bà Huỳnh Thị Ngọc B2 phía công ty T sẽ không liên quan

đến gia đình, người thân của ông/bà.

Tòa án đã tiến hành đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về

việc khởi kiện của bà B, thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải và việc

triệu tập của Tòa án đến tham dự các phiên họp, phiên tòa nhưng bà B vẫn vắng

mặt không rõ ký do và không có văn bản phản đối, do đó theo quy định tại khoản 2

Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Công ty T7 thuộc trường

hợp phải chứng minh. Bà B phải chịu tránh nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những

tài liệu chứng cứ mà Công ty T đưa ra. Việc bà B không thanh toán đầy đủ khoản

vay đã vi phạm thỏa thuận các bên tại Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Điều 7 và Điều

11 bản điều khoản và điều kiện cho vay, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp

pháp của Công ty T, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của M A buộc bà B phải trả

cho Mirae A số tiền nợ gốc là 32.805.329 đồng.

[2.2] Đối với yêu cầu buộc bà B trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 14/6/2024 là

34.268.889 đồng, trong đó lãi quá hạn chưa thanh toán: 12.652.284 đồng; Lãi trên

dư nợ gốc bị quá hạn: 20.253.151 đồng; Lãi chậm trả: 1.363.454 đồng.

Khoản 3.7 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên

thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:

“3.7 Lãi suất vay hàng tháng: 4.17%/tháng”

Khoản 3.8 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên

thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:

“3.8 Lãi suất theo năm: 50%/năm (một năm 365 ngày)”

Do bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T6 chuyển toàn bộ dư nợ còn

lại sang nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 8.3 Điều 8 Đề nghị vay

vốn kiêm hợp đồng tín dụng.

Xét, mức lãi suất đã được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định

tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm

2017; Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày

30/12/2016 của Ngân hàng N1 đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn, buộc bà B phải trả cho Công ty Mirae Asset số tiền lãi tạm tính đến

ngày 14/6/2024 là: 34.268.889 đồng, trong đó:

+ Lãi quá hạn chưa thanh toán: 12.652.284 đồng;

+ Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 20.253.151 đồng;

+ Lãi chậm trả: 1.363.454 đồng.

Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà B còn phải còn phải

chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định

tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 1982159 lập ngày 20/01/2021.

[2.3] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng

cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.

[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn

phải chịu án phí theo quy định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a

khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều

266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Điều 274, Điều

275, Điều 276, Điều 278, Điều 280, Điều 282, Điều 357, Điều 463, Điều 466,

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ

sung năm 2017;

Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 32a, Điều 32c, Điều 32e

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014,

2018;

Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày

11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy

ban thường vụ Q

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T(Việt

Nam):

Buộc bị đơn – Bà Huỳnh Thị Ngọc B phải thanh toán cho Công ty T(Việt

Nam) tổng số tiền còn nợ đối với đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số

1982159 ngày 27/01/2021, tạm tính tới ngày 14/6/2024 là 67.074.218 đồng, trong

đó:

- Nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 32.805.329 đồng

- Lãi quá hạn chưa thanh toán: 12.652.284 đồng;

- Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 20.253.151 đồng;

- Lãi chậm trả: 1.363.454 đồng.

Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/6/2024, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,

bị đơn – Bà Huỳnh Thị Ngọc B còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời

gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại đề nghị vay vốn kiêm hợp

đồng tín dụng số 1982159 ngày 27/01/2021.

Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc Bị đơn – Bà Huỳnh Thị Ngọc B phải chịu số tiền án phí dân sự sơ

thẩm là 3.353.711 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi ba nghìn bảy trăm mười một

nghìn đồng).

Hoàn trả lại cho nguyên đơn – Công ty T(Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí

đã nộp là 1.179.025 đồng (Một triệu một trăm bảy mươi chín nghìn không trăm

hai mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006134

ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể

từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9

Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND TP. Thủ Đức;

- VKSND TP. Hồ Chí Minh;

- Chi Cục THADS TP. Thủ Đức;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2469/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2469/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Asset - Báu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger