Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2468/2024/DS-ST

Ngày : 14-6-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Bà Nguyễn Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1711/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2648/2024/QĐXX-DSST ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3393/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T;

Trụ sở: Số 91, Đường Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Huỳnh Thị Hà V, sinh năm 2001;Địa chỉ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà 793/49/1 đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giấy ủy quyền ngày 20/01/2024 – Có đơn đề nghị vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1992;

Địa chỉ thường trú: 25 Đường 22, Tổ 5, Khu phố 7, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: 88/14 Linh Đông, Tổ 2, Khu phố 7, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Công ty T – Bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:

Ngày 06/7/2022, ông Nguyễn Thanh Q và Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 3348031 (Sau đây viết tắt là hợp đồng tín dụng) lập ngày 05/7/2022, về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Thanh Q với nội dung như sau:

Số tiền vay: 29.848.000 đồng, trong đó khoản vay là 28.000.000 đồng và phí bảo hiểm là 1.848.000 đồng; Mục đích vay: Vay mua hàng và mua bảo hiểm người vay vốn/bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân; Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 10/7/2025; Lãi suất vay hàng tháng: 3,67%/tháng (tương ứng 44%/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 10 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 10/8/2022. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Q. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Q có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.520.341 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/8/2022 đến ngày 01/9/2024 và ngày 10/7/2025 với số tiền là 2.028.185 đồng.

Theo Hợp đồng tín dụng, ông Q có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.520.341 đồng từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/6/2025 và ngày 10/07/2025 với số tiền là 2.028.185 đồng.

Tuy nhiên, kể từ khi giải ngân đến nay, ông Q mới chỉ thanh toán trả góp cho Công ty T được 02 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 3.040.682 đồng, ngày 11/9/2022 là ngày thanh toán cuối cùng. Từ ngày 12/9/2022 đến nay, ông Q đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.

Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Q thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông Q biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Q vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.

Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của ông Q đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T, do đó Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  • - Tuyên buộc ông Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 14/6/2024 là: 55.626.854 đồng, trong đó:
    • + Nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 29.196.769 đồng;
    • + Lãi trong hạn chưa thanh toán: 18.170.061 đồng;
    • + Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 6.578.053 đồng;
    • + Lãi chậm trả: 1.681.971 đồng.
  • - Buộc ông Q phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3348031 kể từ ngày 15/6/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty T.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Q vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Ngày 06/7/2022, nguyên đơn và bị đơn ký kết giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng (gọi tắt hợp đồng tín dụng) số 3348031 lập ngày 05/7/2022 với nội dung: Công ty T cho khách hàng Nguyễn Thanh Q vay số tiền 31.848.000 đồng; mục đích vay vốn mua hàng; thời hạn vay: 36 tháng, từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/7/2025, ông Q có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.520.341 đồng từ ngày 10/8/2022 đến ngày 10/6/2025 và ngày 10/07/2025 với số tiền là 2.028.185 đồng; lãi suất hàng tháng là 3.67%/tháng (tương ứng với 44%/năm). Việc thỏa thuận, ký kết giữa Công ty T và ông Q phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 BLDS 2015, Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng. Do đó, Hợp đồng tín dụng 3348031 phù hợp quy định pháp luật, hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã giải ngân đủ số tiền cho ông Q, ông Nguyễn Thanh Q đã thanh toán được 2 kỳ tiền gốc lẫn lãi đã trả là 3.040.682 đồng. Từ kỳ thứ 3 (ngày 10/10/2022) đến nay ông Q không thanh toán tiền gốc cũng như lãi cho Công ty T mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở. Như vậy, ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng số 3348031. Ngoài việc, phải trả nợ gốc chưa thanh toán thì ông Q phải chịu lãi trả nợ trễ hạn quy định tại mục 8.3 của hợp đồng tín dụng mà hai bên đã thỏa thuận. Cụ thể, ông Q phải chịu:

  • + Tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 150% x (lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn) dư nợ gốc quá hạn) x số ngày trễ hạn/365)
  • + Tiền lãi chậm trả: 10% x (số dư lãi chậm trả) x số ngày trễ hạn/365)

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015 thì có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – Công ty T1 buộc Bị đơn - ông Nguyễn Thanh Q thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh đến thời điểm xét xử, đồng thời ông Q phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 3348031 từ ngày xét xử đến ngày thực tế trả nợ cho Công ty T1 là có căn cứ.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số nợ gốc, lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết; Bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Nguyên đơn cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng 3348031 ngày 06/7/2022, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên ông Q vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T – Bà Huỳnh Thị Hà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q, bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:

Ngày 19/4/2024, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ gốc 29.196.769 đồng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 của Ngân hàng N thì Công ty T được thực hiện các hoạt động của Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N, trong đó Công ty được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng.....

Trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA số OID-B1.0-1D của Trung tâm D về việc chứng thực chữ ký số của ông Nguyễn Thanh Q. Ngày 06/7/2022, Công ty T đã ký đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3348031 với ông Nguyễn Thanh Q với nội dung Công ty T đồng ý cho ông Q vay số tiền 31.848.000 đồng, trong đó khoản vay 30.000.000 đồng và phí bảo hiểm 1.848.000 đồng; Mục đích vay: Vay mua hàng và mua bảo hiểm người vay vốn/bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân; Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 10/7/2025; Lãi suất vay hàng tháng: 3,67%/tháng (tương ứng 44%/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 10 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 10/8/2022. Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng số 3348031 ngày 06/7/2022, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức của giao dịch được xác lập thông qua phương thức điện tử phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 118; Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 36 Luật giao dịch điện tử năm 2005, do đó có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.

Công ty T đã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng theo Phiếu báo nợ ngày 06/7/2022 vào tài khoản số [...] của ông Q mở tại Ngân hàng TMCP S, đồng thời chuyển toàn bộ số tiền bảo hiểm 1.848.000 đồng cho Công ty TNHH B (M) (Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm số 9109750). Theo bảng tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q đã thanh toán cho Công ty T số tiền 3.040.682 đồng, trong đó: Nợ gốc: 651.231 đồng; Nợ lãi: 2.365.451 đồng; Nợ phí: 24.000 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 29.196.769 đồng.

Kể từ ngày 10/10/2022, đến nay ông Q không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho Công ty T.

Tòa án đã tiến hành đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc khởi kiện của ông Q, thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải và việc triệu tập của Tòa án đến tham dự các phiên họp, phiên tòa nhưng ông Q vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản phản đối, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Công ty T không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Q phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T đưa ra. Việc ông Q không thanh toán đầy đủ khoản vay đã vi phạm thỏa thuận các bên tại Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Điều 7 và Điều 11 bản điều khoản và điều kiện cho vay, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Mirae A buộc ông Q phải trả cho Mirae A số tiền nợ gốc là 29.196.769 đồng.

[2.2] Đối với yêu cầu buộc ông Q trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 26.430.088 đồng, trong đó lãi quá hạn chưa thanh toán: 18.170.061 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 6.578.053 đồng; Lãi chậm trả: 1.681.974 đồng.

Khoản 3.7 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:

“3.7 Lãi suất vay hàng tháng: 4.17%/tháng”

Khoản 3.8 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:

“3.8 Lãi suất theo năm: 50%/năm (một năm 365 ngày)”

Do ông Q vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng.

Xét, mức lãi suất đã được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Q phải trả cho Công ty T số tiền lãi tạm tính đến ngày 14/6/2024 là: 26.430.088 đồng, trong đó:

  • - Lãi quá hạn chưa thanh toán: 18.170.061 đồng;
  • - Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 6.578.053 đồng;
  • - Lãi chậm trả: 1.681.971 đồng.

Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Q còn phải còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3348031 lập ngày 05/7/2022.

[2.3] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.

[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 278, Điều 280, Điều 282, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 32a, Điều 32c, Điều 32e Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;

Căn cứ Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;

Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T (Việt Nam):

Buộc bị đơn – Ông Nguyễn Thanh Q phải thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền còn nợ đối với Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3348031 ngày 06/7/2022, tạm tính tới ngày 14/6/2024 là: 55.626.854 đồng, trong đó:

  • + Nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 29.196.769 đồng;
  • + Lãi quá hạn chưa thanh toán: 18.170.061 đồng;
  • + Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn: 6.578.053 đồng;
  • + Lãi chậm trả: 1.681.971 đồng.

Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, bị đơn – Ông Nguyễn Thanh Q còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3348031 lập ngày 05/7/2022.

Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn – Ông Nguyễn Thanh Q phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.781.343 đồng (Hai triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

Hoàn trả lại cho nguyên đơn – Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.052.577 đồng (Một triệu không trăm năm mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006135 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Lợi

Hoàng Thị Thu

Nguyễn Thị Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2468/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 2468/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Asset - Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger