|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 246/2024/DS – ST Ngày: 31/7/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Hoàng Việt
- Bà Trần Thị Thanh Thủy
Thư ký Tòa án: Bà Phạm Ngọc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 483/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-DS ngày 6 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2024/QĐST-DS ngày 4 tháng 7 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn : Công ty TNHH M
Địa chỉ: D Đ, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật : Ông Moon Y – Tổng Giám đốc
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Ý Q (Theo các Giấy ủy quyền số 339/2023/TB-WDTC ngày 27/12/2023) (xin vắng mặt)
Bị đơn : Ông Trần Lê D – sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: 8 H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Ý Q trình bày:
Ngày 20 tháng 06 năm 2022, Công ty TNHH M1 (gọi là Công ty M1) đã ký hợp đồng mua bán nợ số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME với Công ty T (Việt Nam) về khoản nợ của ông Trần Lê D.
Theo đó, vào ngày 31/12/2020, ông Trần Lê D và Công ty T (Việt Nam) đã ký Hợp đồng tín dụng số 1916126 để vay tiền với các nội dung sau:
- Số tiền vay: 42.200.000 đồng;
- Thời hạn: 36 tháng;
- Lãi suất: 49%/năm;
- Mục đích vay: Tiêu dùng sinh hoạt phục vụ đời sống.
Kể từ ngày 20/08/2021, ông Trần Lê D đã không thanh toán mặc dù Công ty M1 đã thực hiện nhắc nhở bằng nhiều biện pháp. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 31/7/2024, ông Trần Lê D cần phải thanh toán là: 100.360.303 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn ba trăm lẻ ba đồng), trong đó gồm:
- Nợ gốc: 36.447.198 đồng;
- Nợ lãi : 63.913.105 đồng.
Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết, kế hoạch trả nợ của ông Trần Lê D đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. Vì vậy Công ty M1 kính đề nghị Quý Tòa xem xét giải quyết các yêu cầu đối với bị đơn như sau:
- Tuyên buộc ông Trần Lê D có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Công ty M1 toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 31/7/2024 là: 100.360.303 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn ba trăm lẻ ba đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 36.447.198 đồng;
- Nợ lãi : 63.913.105 đồng.
- Ngoài ra, kể từ ngày 01/8/2024, nếu ông Trần Lê D vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, ông Trần Lê D vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
* Tại phiên tòa:
Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của Công ty TNHH M1, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Địa chỉ nơi cư trú của bị đơn được xác định tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự: Đại diện nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định:
Ngày 31/12/2020, Công ty T (Việt Nam) ký Hợp đồng tín dụng số: 1916126 để vay tiền với các nội dung: Số tiền vay: 42.200.000 đồng với mục đích tiêu dùng sinh hoạt phục vụ đời sống, lãi suất là 2,6%/tháng, trong thời hạn 36 tháng.
Kể từ ngày 20/08/2021, ông Trần Lê D đã không thanh toán mặc dù Công ty M1 đã thực hiện nhắc nhở bằng nhiều biện pháp gây thiệt hại cho công ty nên buộc ông Trần Lê D cần phải thanh toán một lần cho Công ty M1 tổng dư nợ tạm tính đến ngày 31/7/2024 là: 100.360.303 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu ba trăm sáu mươi ngàn ba trăm lẻ ba đồng), trong đó nợ gốc là 36.447.198 đồng, nợ lãi là 63.913.105 đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về số tiền lãi vay và các tiền phí đã được nguyên đơn tính đúng theo thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên yêu cầu của nguyên đơn về tiền nợ tính đến ngày xét xử và toàn bộ tiền lãi phát sinh tiếp tục tính đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông Trần Lê D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 5.018.015 đồng (năm triệu không trăm mười tám ngàn không trăm mười lăm đồng). Trả lại cho Công ty TNHH M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng ;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M1.
1.1. Ông Trần Lê D có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH M1 số tiền nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số dụng số 1916126 ngày 31/12/2020 số tiền là: 100.360.303 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn ba trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Nợ gốc là 36.447.198 đồng đồng, nợ lãi là 63.913.105 đồng.
1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 5.018.015 đồng (năm triệu không trăm mười tám ngàn không trăm mười lăm đồng) do ông Trần Lê Duy c. H lại cho Công ty TNHH M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.074.878 đồng (hai triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn tám trăm bảy mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0035601 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty TNHH M1, ông Trần Lê D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
Bản án số 246/2024/DS – ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 246/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
