Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2024/HS-ST

Ngày: 27-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ Tú

2. Ông Nguyễn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 305/2024/TLST-HS, ngày 19/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2458/2024/QĐXXST-HS ngày 13/5/2024, đối với các bị cáo:

1. La Trường H; Sinh ngày 06/8/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số M đường P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: 1 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: La Quốc C, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Lệ H, sinh năm 1974; Có vợ và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2019 bị Ủy ban nhân dân Quận 5 xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ không có giấy phép (Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2610/QĐ-XPVPHC ngày 11/7/2019 của Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh)

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/6/2023 (Có mặt)

2. Đỗ Hùng C; Sinh ngày 16/4/2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú và chỗ ở: số A đường Đ, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam: Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn 9/12; Con ông Đỗ Thanh H1, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Lâm Ngọc P, sinh năm 1983; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/6/2023 (Có mặt)

Bị hại: Ông R, sinh năm 1984; (Quốc tịch Nga) (Vắng mặt)

Địa chỉ: thành phố N, tỉnh K.

Đã xuất cảnh về nước Nga vào ngày 06/06/2023

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà: Lê Thị Kim T, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số E Lô K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

La Trường H và Đỗ Hùng C là bạn bè quen biết nhau, do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên H rủ C đi cướp giật tài sản của người đi đường, cường đồng ý.

Khoảng 05 giờ ngày 06/6/2023, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 5953-249.73 chở C lưu thông trên các tuyến đường để tìm người có tài sản để cướp giật. Khi đang lưu thông đến trước nhà số C đường Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, C phát hiện ông R (Quốc tịch Nga) đang cầm một điện thoại di động Iphone SE màu đen trên tay, nên C nói cho H biết. H điều khiển chạy từ phía trước áp sát bên trái của anh R để C ngồi phía sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của anh R. Sau khi giật được điện thoại, H tăng ga bỏ chạy hướng về chợ B. Lúc này, Tổ tuần tra 363 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện, truy đuổi, C liền ném chiếc điện thoại di động vừa chiếm đoạt được xuống đường. Khi đến trước nhà số B đường D, Phường E, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, H và C bị Tổ tuần tra khống chế, bắt giữ đưa về Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, La Trường H và Đỗ Hùng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 182/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận: Một (01) điện thoại di động hiệu Iphone SE, dung lượng 64GB, màu đen trị giá 3.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-P2 ngày 24/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo La Trường H và Đỗ Hùng C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, xét bị cáo La Trường H và Đỗ Hùng C có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo La Trường H từ 3 năm 6 tháng tù đến 4 năm 6 tháng tù và xử phạt bị cáo Đỗ Hùng C từ 3 năm tù đến 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về xử lý vật chứng của vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo La Trường H và Đỗ Hùng C không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị La Trường H và Đỗ Hùng C tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Khoảng 05 giờ ngày 06/6/2023, tại trước nhà số C đường Đ, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, La Trường H đã điều khiển xe máy, áp sát bên trái của ông R để Đỗ Hùng C ngồi phía sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của ông R rồi H tăng ga cùng tẩu thoát với C.

Khi đến trước nhà số B Đường D, Phường E, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo H và C bị Tổ tuần tra khống chế, bắt giữ đưa về Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone SE của ông R có là 3.000.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 182/KL-HĐĐGTS ngày 01/7/2023.

Do đó hành vi của bị cáo La Trường H và Đỗ Hùng C cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tội phạm các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khai báo thành khẩn theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, bị cáo La Trường H có nhân thân xấu, đã bị Ủy ban nhân dân Quận 5 xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ mà không có giấy phép vào ngày 11/7/2019.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông R đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Lập luận trên là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 59S3–249.73, là phương tiện C dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh, chiếc xe trên là do bà Lê Thị Kim T sở hữu. Ngày 14/6/2023, chị Lê Thị Kim T đã bán chiếc xe trên cho C, nhưng chưa sang tên, nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A55 866787050582662 là tài sản cá nhân của bị cáo Đỗ Hùng C không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo C.
  • - Đối với điện thoại di động Iphone 6S Plus IMEI: 353337079760780 là tài sản cá nhân của bị cáo La Trường H không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H.
  • - Đối với 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu đỏ đen; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu đen không có giá trị nên tiến hành tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Xử phạt bị cáo La Trường H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Hùng C 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023.

* Trả lại cho bị cáo La Trường H: 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus IMEI: 353337079760780 (...0780, thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu xanh, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiển tra trình trạng máy móc bên trong)

* Trả lại cho bị cáo Đỗ Hùng C: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55 866787050582662 (thực nhận 01 điện thoại Oppo màu xanh dương, không kiếm tra đời máy, imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

* Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe hai bánh gắn máy; Nhãn hiệu: không xác định; Số loại: không xác định; Dung tích xi lanh: không xác định; BS: 59S3 – 249.73; SK: RLCE1S9206Y001420; SM: 1S92-001420 (Không nút đổ nhớt, không bửng, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra)

* Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 áo khoác màu đen; 01 quần Jean dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu xanh;
  • - 01 áo sơ mi dài tay màu đỏ đen; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu đen

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/147 ngày 23/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06-Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Bị hại; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - NLQ; (1)
  • - Đương sự; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (2)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (2)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ. (30) (11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Uyên Thy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 246/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 246/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo La Trường H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023. Xử phạt bị cáo Đỗ Hùng C 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger