|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 246/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 8 – 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2023/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 212/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 01/6/1997; địa chỉ trước khi xuất cảnh: xã V, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện sống tại địa chỉ: số F, đường H, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 10/5/1995; địa chỉ trước khi xuất cảnh: xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện sống tại Đài Loan; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: xóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn xin vắng mặt (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T trình bày: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 20/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong vài năm gần đây, vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, hơn thế nữa cả hai đều đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài (Lãnh thổ Đài Loan) dẫn đến xung đột vợ chồng ngày càng trầm trọng, đặc biệt là xung đột về tính cách và quan điểm sống của hai vợ chồng. Nay chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh T1 nên yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân Hoàng A sinh ngày 13/9/2018. Hiện cháu đang sống cùng với mẹ ruột chị T là bà Nguyễn Thị H sinh năm 1972, địa chỉ: xóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng A không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, chị đề nghị Toà án tạm giao cháu Hoàng A cho mẹ đẻ chị là bà H chăm sóc nuôi dưỡng khi chị đang ở nước ngoài.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung; không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngày 30/4/2023, chị Nguyễn Thị Huyền T có tại đơn trình bày và đề nghị Toà án thu thập tài liệu chứng cứ, gửi Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An; trong đơn chị T trình bày và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và đề nghị Toà án thu thập các tài liệu chứng cứ qua bố mẹ anh T1 là ông Nguyễn Xuân N và bà Phạm Thị H1 (do anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại với bố mẹ).
Đối với bị đơn anh Nguyễn Xuân T1: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Nguyễn Xuân T1 vắng mặt. Chị Nguyễn Thị Huyền T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T1 cư trú, chị chỉ biết anh T1 đang sống ở Đài Loan. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho anh T1 thông qua ông Nguyễn Xuân N và bà Phạm Thị H1 (là bố mẹ đẻ của anh T1), tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Xuân N và bà Phạm Thị H1 cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Ông N và bà H1 trình bày: anh T1 thỉnh thoảng liên lạc với ông bà qua điện thoại, không viết thư hay giấy tờ gì nhưng anh T1 không cho ông bà biết địa chỉ cụ thể của anh ở Đài Loan. Anh T1 đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T với anh. Theo ông N bà H1 thì anh T1 đồng ý ly hôn với chị T vợ chồng có 01 con chung; ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng; trong khi chị T chưa về nước, anh đồng ý để cháu Hoàng A cho mẹ chị T là bà H chăm sóc; về tài sản chung, nợ chung: anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào của anh T1 thể hiện ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Huyền T con anh T1 chị T là cháu Nguyễn Xuân Hoàng A đang ở với bà từ tháng 9/2018 đến nay. Nếu chị T anh T1 ly hôn, bà không yêu cầu chị T anh T1 trả tiền công chăm sóc nuôi dưỡng cháu và cũng không yêu cầu thêm chi phí nào. Bà đề nghị được tiếp tục chăm sóc cháu Hoàng A trong thời gian bố mẹ cháu đang ở nước ngoài và sẽ giao lại cho người có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu theo bản án của Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Xuân T1 đã được bố mẹ đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc chị Nguyễn Thị Huyền T xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhuyện N, tỉnh Nghệ An vào năm 2017, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong vài năm gần đây, vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, hơn thế nữa cả hai đều đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài dẫn đến xung đột vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Xuân Hoàng A cho chị Nguyễn Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; bà Nguyễn Thị H nhận tiếp tục chăm sóc cháu Hoàng A trong khi chị T đang ở nước ngoài; anh Nguyễn Xuân T1 không phải đóng cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng A, bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét; chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T và bị đơn anh Nguyễn Xuân T1; trong đó chị T anh T1 hiện đang sống tại Đài Loan, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại huyện N, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Xuân T1 vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân N và bà Phạm Thị H1 (là bố mẹ đẻ của anh T1 địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An) yêu cầu ông bà cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T1 biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh T1. Tuy nhiên, ông N bà H1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T1 do anh T1 không cho bà biết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh T1 liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh T1 trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị Huyền T đang cư trú tại Đài Loan, đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và tham gia các phiên toà xét xử. Chị uỷ quyền cho Công ty L1 (người đại diện là ông Chu Quang M– Giám đốc) (địa chỉ: số D Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An) nộp đơn khởi kiện ly hôn, tài liệu, tạm ứng án phí, xác minh thông tin, tài liệu cần thiết và giao nhận các văn bản của Tòa án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho nguyên đơn thông qua người đại diện theo uỷ quyền và cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H; những người này có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về việc thu thập tài liệu chứng cứ: Tại Đơn trình bày và đề nghị Toà án thu thập tài liệu chứng cứ ngày 30/4/2023 của chị Nguyễn Thị Huyền T gửi Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An có nội dung: Do công việc bận rộn, chị đã đến Đại sứ quán tại Đài Loan để xin xác nhận vào đơn trình bày nhưng do hết giờ hành chính và không được lịch hẹn nên chị không xin xác nhận được của cơ quan có thẩm quyền. Chị đề nghị Toà án tiến hành giám định chữ ký, chữ viết trong mục Người làm đơn tại đơn trình bày ngày 30/4/2023. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 06/2023/QĐTCGĐ-ST ngày 10/5/2023. Ngày 29/5/2023, Phòng K1 Công an tỉnh N có Kết luận giám định số 10/KL-KTHS(DD3-TL) kết luận: “Chữ ký “T”, chữ viết “Nguyễn Thị Huyền T” dưới mục “Người Làm Đơn” trên “Đơn trình bày và đề nghị Toà án thu thập tài liệu chứng cứ” đề ngày 30 tháng 4 năm 2023 ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Huyền T trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người ký, viết ra.” Như vậy, việc Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ là đúng quy định tại Điều 97, Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
4.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An), là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong vài năm gần đây, vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, hơn thế nữa cả hai đều đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài dẫn đến xung đột vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến nay, chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh T1 nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T cho chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
4.2. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân Hoàng A sinh ngày 13/9/2018. Hiện cháu đang sống cùng với mẹ ruột chị T là bà Nguyễn Thị H sinh năm 1972, địa chỉ: xóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng A không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, chị đề nghị Toà án tạm giao cháu Hoàng A cho bà H chăm sóc nuôi dưỡng cháu khi chị đang ở nước ngoài.
Bà Nguyễn Thị H cam đoan tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T anh T1, sẽ giao lại cho người có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng theo bản án của Toà án.
Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Huyền T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng A từ tháng 9/2018 đến nay, bà Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T anh T1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[6]. Về án phí và chi phí giám định: Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định và phải chịu 3.240.000 (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn) đồng chi phí giám định. Chị T đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 104 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 97, Điều 102, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1
-
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Xuân Hoàng A sinh ngày 13/9/2018 cho chị Nguyễn Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do chị T đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Nguyễn Xuân Hoàng A cho bà Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị T về Việt Nam với cháu Hoàng A.
-
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Huyền T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Nguyễn Xuân T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Xuân T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T anh T1 có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
5. Về án phí và chi phí giám định:
Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Huyền T đã nộp (chị Nguyễn T. L nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012712 ngày 06/3/2023.
Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 3.240.000 (ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn) đồng chi phí giám định. Chị T đã nộp đủ (ông Chu Quang M nộp thay).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Quốc Sơn |
Bản án số 246/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 246/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
