Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/7/2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn

Bà Dương Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1974; Nơi cư trú trước xuất cảnh: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người được nguyên đơn ủy quyền về việc giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: Chị Vũ Thị C, sinh năm 2000, địa chỉ: Số C Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có quan điểm xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Phạm Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là huyện N), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/02/1992. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù chị và anh T1 đã nhiều lần nói chuyện mong hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Năm 2018 vợ chồng chị sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Ngày 31/8/2020 chị sang nước ngoài sinh sống và làm việc đến nay chưa về nước. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Đình T1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình T2, sinh ngày 09/12/1992 và Nguyễn Đình H, sinh ngày 18/02/1998, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Đình T1 trình bày: Về thời điểm đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Năm 2021 chị T đi Đài Loan lao động, còn anh ở lại Việt Nam. Từ khi đi nước ngoài chị T chưa về nước lần nào, chị T có trao đổi với anh về việc ly hôn. Quan điểm của anh muốn chị T về Việt Nam sinh sống cùng anh nhưng anh không có biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị T cương quyết xin ly hôn, anh cũng nhất trí theo yêu cầu của chị T. Về con chung, anh xác định vợ chồng có 02 con chung như chị T trình bày là đúng, hiện nay các con chung đều đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu T3 án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị T, anh T1 vắng mặt, có đơn và quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đình T1; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh h đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; Bị đơn anh Nguyễn Đình T1 có nơi cư trú tại xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[1.2] Các tài liệu mà chị T gửi về và ủy quyền cho chị Vũ Thị C nộp thay gồm: Đơn xin ly hôn, đơn xin giải quyết vắng mặt, bản tự khai, giấy ủy quyền đều có xác nhận Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ nên các tài liệu này là hợp pháp.

[1.3] Tại phiên tòa, chị T, anh T1 vắng mặt, có đơn và quan điểm xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Đình T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là huyện N), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/02/1992 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau. Năm 2020, anh T1 ở Việt Nam, còn chị T đi Đài Loan làm việc. Từ khi sống xa nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị T đã trao đổi với anh T1 về việc ly hôn, quan điểm của anh T1 muốn chị T về Việt Nam để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T không đồng ý. Nay chị T có đơn xin ly hôn, anh T1 không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, xác định nếu chị T cương quyết ly hôn thì anh T1 nhất trí ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình T2, sinh ngày 09/12/1992 và Nguyễn Đình H, sinh ngày 18/02/1998. Các con chung đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình T1.
  2. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do chị Vũ Thị C nộp thay, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000490 ngày 05/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Thanh vắng m tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Nam Chính, huyện Nam Sách (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 246/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 246/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị T xin ly hôn anh Nguyễn Đình T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger