TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 246/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 145/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn K, sinh năm 1982; Số định danh cá nhân: 030082011016; Nơi thường trú: KDC S, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1984; Số định danh cá nhân: 031184008461; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC S, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Trần Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương vào ngày 18/2/2002. Sau khi cưới anh và chị H sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ anh tại KDC S, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Năm 2017, chị H đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không chia sẻ được với nhau về cuộc sống, tính cách, quan điểm. Vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2017 đến nay không ai quan tâm đến ai. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Thị H.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 người con chung là cháu Trần Thị H1, sinh ngày 04/11/2002, Trần Thị Thu H2, sinh ngày 28/11/2005 và Trần Đức P, sinh ngày 11/8/2013. Hiện nay, cháu H1 và cháu H2 đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh đề nghị giao con chung Trần Đức P cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Anh tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh K không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Đài Loan nên Tòa án đã xác minh qua gia đình chị Trương Thị H, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của chị H, chị Trần Thị H1 (là con gái chị Trương Thị H) trình bày: Chị không biết địa chỉ của mẹ chị ở Đài Loan nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên, mẹ chị vẫn thường xuyên liên hệ về gia đình qua điện thoại. Chị đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho mẹ chị biết. Quan điểm của mẹ chị là đồng ý ly hôn với bố chị. Về con chung, quan điểm của mẹ chị là do mẹ chị đang lao động tại Đài Loan và từ trước đến nay em P vẫn ở cùng ông bà nội nên mẹ chị đề nghị tiếp tục Tòa án giao em P cho ông bà nội tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn chị H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Trần Văn K được ly hôn chị Trương Thị H; Về con chung: Giao cho anh Trần Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Đức P, sinh ngày 11/8/2013, chấp nhận sự tự nguyện của anh K không yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn anh Trần Văn K có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Trương Thị H. Chị H hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án, anh K không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh K và gia đình chị H cung cấp địa chỉ, nhưng anh K và gia đình chị H không cung cấp được. Chị Trần Thị H1 (con gái chị Trương Thị H) xác định chị H vẫn thường xuyên liên lạc với chị, chị đã thông báo về việc anh K có đơn xin ly hôn, chị H không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3]. Tại phiên tòa, anh K vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn chị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn K và chị Trương Thị H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã K vào ngày 18/2/2002 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới anh K và chị H chung sống hạnh phúc đến năm 2017 chị H đi lao động tại Đài Loan từ đó vợ chồng không chia sẻ được với nhau về cuộc sống. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2017 đến nay và không ai quan tâm đến ai. Anh K có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình chị H có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh K. Xét thấy: Vợ chồng anh K, chị H từ lâu đã không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh K, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận xử cho anh K được ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh K, chị H có 03 người con chung là cháu Trần Thị H1, sinh ngày 04/11/2002, Trần Thị Thu H2, sinh ngày 28/11/2005 và Trần Đức P, sinh ngày 11/8/2013. Hiện nay, cháu H1 và cháu H2 đã trưởng thành và khỏe mạnh bình thường, các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh K đề nghị giao con chung Trần Đức P cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Anh tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị H có quan điểm đề nghị Tòa án giao con chung cho bố mẹ anh K nuôi dưỡng vì từ nhỏ cháu P ở cùng bố mẹ anh K. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình bố, mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung sau khi ly hôn, do đó, chấp nhận đề nghị của anh K giao con chung cho là cháu Trần Đức P, sinh ngày 11/8/2013 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và chị H có quyền, nghĩa vụ trông nom con chung mà không ai được cản trở.
[3]. Về án phí: Anh K là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn K được ly hôn với chị Trương Thị H.
- Về con chung: Giao cho anh Trần Văn K được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Đức P, sinh ngày 11/8/2013 thời gian từ tháng 6/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh K không yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Chị Trương Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Trần Văn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001744 ngày 21/03/2025 (anh K đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Trương Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 246/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 246/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
