TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 246/2024/HSST Ngày: 09 - 12 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Công Trung – Giáo viên Trường THCS Hiệp Tân, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Đình Thức.
Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Lê Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 229/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Hồng N; sinh năm 1995, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 433 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: 1 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Minh H, sinh năm 1965 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; chồng: Lê Kim S, sinh năm 1985, con: chưa.
- - Tiền án, tiền sự: không.
- Bị bắt tạm giam: ngày 18/09/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Chí Hòa (cơ sở T9) Công an T10 và có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Công T1; sinh ngày: 26/10/2006, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 194/5 P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: 1 P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T2, sinh năm 1980 và bà: Phạm Thu Đ, sinh năm 1973; vợ, con: chưa.
- - Nhân thân: Ngày 09/4/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Ngày 11/9/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam về tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Tiền án, tiền sự: không.
- Bị bắt tạm giam: ngày 30/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Chí Hòa (cơ sở T9) Công an T10 và có mặt tại phiên tòa.
- Võ Quốc N1; sinh ngày: 09/04/2008, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 52/40/9 Đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn T3, sinh năm 1977 và bà: Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1978; vợ, con: chưa.
- - Tiền án, tiền sự: không.
- Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng N: Luật sư Vũ Quốc T4, Luật sư Trần Thị Ngọc D – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư T11 (Có mặt).
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Công T1: Luật sư Nguyễn Hà P – Trung tâm T12 (Có mặt).
Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Quốc N1: Luật sư Phan Thị Ngọc T5 – Trung tâm T12 (Có mặt).
Người giám hộ cho bị cáo Võ Quốc N1: ông Võ Văn T3, sinh năm 1977; trú tại: 5 Đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (cha ruột bị cáo). (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1970; trú tại: 1 P, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
- Chị Lâm Thị Thanh H1. Sinh năm 1987; trú tại: 3 đường số A, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quốc Đ1, sinh năm 2008; trú tại: F Đường số B, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
- Anh Hoàng Minh H2, sinh năm 2008; trú tại: E, ấp E, xã V, huyện B, TP . (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 28/4/2024, Nguyễn Thị Hồng N đang bán bánh tráng trộn tại lề đường công viên G, phường S, quận T thì có khách đến, nên N đến gặp khách mời mua bánh tráng. Lúc này, Nguyễn Văn S1 đang bán nước giải khát trong công viên, nghĩ N dành khách nên S1 và N xảy ra cự cãi. Sau đó, N nói “tụi bây đợi tao tí”, S1 trả lời “kêu người đông thêm nha, tao ở đây đợi nè” rồi N vào ứng dụng Messenger Facebook trong điện thoại di động, sử dụng tài khoản tên “Hồng Nhung” gọi qua tài khoản Messenger Facebook tên “Thành P1” của Phạm Công T1 nói “T1 ơi, có người đòi đánh chị kìa, em chạy qua liền đi” (nghĩa là N kêu T1 qua đánh nhóm của S1).
Lúc này, T1 đang ngồi uống bia với Võ Quốc N1 và Hoàng Minh H2 tại nhà T1, địa chỉ 1 P, phường B, quận B, nghe điện thoại của N xong, T1 nói với H2 và N1 là “N có chuyện rồi, mặc đồ lẹ rồi đi ra quán N3 bán” (nghĩa là T1 rủ N1 và H2 đi đánh nhau giúp N do T1, N1 và H2 đều quen biết với N), H2 và N1 đồng ý. Sau đó, T1 lấy cây ba chĩa trong phòng khách cầm bằng tay phải, rồi H2 điều khiển xe máy hiệu Wave RSX, biển số 50N1-389.53 chở N1 ngồi giữa, T1 ngồi sau cùng cầm cây ba chĩa (mũi hướng lên trời, cán hướng xuống đất). Khi đến công viên G, H2 để xe máy biển số 50N1-389.53 (chìa khóa cắm trên xe) trước cạnh xe bánh tráng trộn của N rồi T1 cầm cây ba chĩa nhảy xuống xe, sau khi xuống xe H2 lấy cái ghế nhựa tại công viên, N1 không cầm hung khí, cùng chạy về hướng N cách đó khoảng 10m. T1 vừa chạy vừa nói lớn “Đâu, tụi nó đâu” thì N nói “Đó, tụi nó ngồi trong đó đó, đi vào đây tao chỉ cho” rồi N chỉ hướng cho nhóm của T1 truy đuổi nhóm của anh S1, còn N chạy theo được khoảng 05 đến 10m thì không chạy theo nữa. Khi bị nhóm của T1 truy đuổi, anh S1 và Võ Trà V bỏ chạy một hướng, còn anh Nguyễn Hoàng Đ2 bỏ chạy hướng khác, thì nhóm của T1 đuổi theo không kịp. Khi truy đuổi khoảng 50m, nhóm của T1 bị anh Nguyễn Hữu Thanh Q (bảo vệ dân phố) đuổi theo nên cả ba bỏ chạy.
Sau đó, T1 gặp anh Lâm Hồ Tấn D1 đang điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 59NA-104.01 chở chị Lê Kim T6 đi hướng đường CN1 đến công viên G, nên T1 cầm cây ba chĩa hướng lên trời và chặn đầu xe, anh D1 dừng xe lại nói “Sao nóng vậy anh trai”, khẩu trang của T1 tuột ra nên T1 và anh D1 nhận ra là bạn học (T1, N1, H2 và D1 là bạn học chung) thì T1 nói “Mày chở anh ra đây cái”. Lúc này, chị T6 xuống xe, T1 nói với anh D1 “xuống đi, xuống đi” nên anh D1 xuống xe và đưa xe 59NA-104.01 cho T1, T1 vứt lại cây ba chĩa rồi điều khiển xe chạy ra đường số E, phường B, quận B. Cùng lúc này, N lấy xe máy biển số 50N1-389.53 chở H2 chạy ra đường số E rồi cả ba gặp nhau, T1 sử dụng ứng dụng Messenger Facebook trong điện thoại gọi đến tài khoản “Dũng L” của anh D1 để trả xe nhưng anh D1 không nghe máy, nên T1 gửi tin nhắn thoại với nội dung “Em đang đâu vậy, chạy ra cà phê đằng sau công viên G để lấy xe về”. T1 điều khiển xe máy biển số 59NA-104.01 đến quán C1, địa chỉ B đường số E, phường B, quận B, rồi T1 nhờ anh Trần Hoàng N2 (bạn của T1, nhân viên quán cà phê) giữ dùm xe máy của anh D1 thì anh N2 đồng ý.
Sau đó, H2 điều khiển xe máy biển số 50N1-389.53 chở N1 và T1 đến gặp N tại quán cà phê G, địa chỉ G Kênh A, phường S, quận T rồi T1 điều khiển xe máy hiệu Honda Vario, biển số 59S3-532.65 của N còn H2 điều khiển xe máy biển số 50N1-389.53 chở N1 cùng về nhà của T1 và gặp Lê Đức T7 và Nguyễn Quốc Đ1. Lúc này, N2 nói T1 đến lấy xe của D1 về nên T1 điều khiển xe máy biển số 59S3-532.65 chở T7, còn H2 điều khiển xe máy biển số 50N1-389.53 chở N1 và Đ1 đến quán C1 lấy xe máy của D1 rồi cả nhóm đến quán cà phê G trả lại xe máy biển số 59S3-532.65 cho N. Lúc này, N1 nói T1 “Giờ để xe của D1 qua nhà anh đi, khi nào D1 nó về thì nói nó qua nhà anh lấy xe”, T1 đồng ý. Sau đó, cả nhóm đi về nhà T1 thì bị Công an phường S, quận T kiểm tra hành chính, mời về trụ sở làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1, Hoàng Minh H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Công văn số 916/UBND ngày 29/4/2024 của Ủy ban nhân dân phường S, quận T cung cấp thông tin như sau: “Sau khi xảy ra vụ việc các đối tượng sử dụng hung khí để đuổi đánh nhằm mục đích gây thương tích cho người khác và chiếm đoạt tài sản lúc 22 giờ 15 phút ngày 28/4/2024 tại Công viên G, phường S, quận T. Qua công tác nắm tình hình dư luận của quần chúng nhân dân tại khu vực Công viên G, UBND phường S nhận thấy công viên là nơi để người dân vui chơi, giải trí, tập thể dục, thư giãn. Tuy nhiên các đối tượng sử dụng hung khí để đuổi đánh nhằm mục đích gây thương tích cho người khác và chiếm đoạt tài sản, mặc dù chưa có thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, tài sản nhưng vụ việc gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là đối với những người dân sinh sống xung quanh khu vực Công viên G”. (BL 43)
* Vật chứng thu giữ: có bản thống kê vật chứng kèm theo vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 251/CT-VKSQ.TP ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố các bị cáo Phạm Công T1, Võ Quốc N1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa:
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b, d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N;
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Hồng N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, 50, 58; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Công T1, Võ Quốc N1;
- Xử phạt: bị cáo Phạm Công T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Xử phạt: bị cáo Võ Quốc N1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng N trình bày: thống nhất về tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại về tài sản và sức khỏe cho người khác. Bị cáo hiện đang là lao động chính và hiện đang mắc bệnh Tim, gan, tiểu đường đang điều trị bệnh. Bị cáo N1 quá trình học tập được tặng giấy khen do có thành tích trong quá trình học tập và có ông cố là Võ Trung H3 được công nhận là Liệt sỹ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Công T1 trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo xuất thân từ gia đình có truyền thống cách mạng. Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Quốc N1 trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, quá trình học tập được tặng giấy khen do có nhiều thành tích trong học tập. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên hạn chế về khả năng nhận thức, vai trò tham gia trong vụ án hạn chế. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục đi học, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
- Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người làm chứng, C thu thập được, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có căn cứ để xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 28/4/2024, do mâu thuẫn trong buôn bán, Nguyễn Thị Hồng N gọi điện thoại rủ Phạm Công T1, Võ Quốc N1, Hoàng Minh H2 đến đánh nhóm của anh Nguyễn Văn S1. Sau đó, T1 và T1 cùng với N1, H2 rủ nhau mang theo hung khí (cây ba chĩa, ghế nhựa) đến công viên G, phường S, quận T, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn phường S, quận T, thì bị phát hiện.
Vì vậy, Cáo trạng số 251/CT-VKSQ.TP ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố các bị cáo Phạm Công T1, Võ Quốc N1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của người dân tại công viên G trên địa bàn phường S, quận T, TP .. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn vì giữa các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công và câu kết chặt chẽ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
[4.1] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N: xuất phát từ việc mâu thuẫn trong việc buôn bán tại Công viên G. Bị cáo đã gọi điện rủ Phạm Công T1 Võ Quốc N1 và Hoàng Minh H2 mang theo cây ba chĩa, ghế nhựa đuổi đánh nhóm anh Nguyễn Văn S1 gây náo loạn và mất an ninh trật tự tại Công viên G, phường S, quận T, TP ..
[4.2] Đối với bị cáo Phạm Công T1: sau khi được đồng bọn rủ rê thực hiện tội phạm, bị cáo đã đồng ý ngay và rủ Võ Quốc N1, Hoàng Minh H2 mang theo hung khí đến công viên G, phường S, quận T, TP .. Khi đến nơi, T1 dùng cây ba chĩa đuổi đánh nhóm của anh S1 gây ảnh hưởng đến cuộc sống người dân tại khu vực.
[4.3] Đối với bị cáo Võ Quốc N1: khi được T1 rủ đi đánh nhau, bị cáo đã đồng ý ngay và khi đến công viên G, bị cáo đã cùng với T1, H2 rượt đuổi nhóm anh S1 đánh gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thị Hồng N có tình tiết tăng nặng là xúi dục bị cáo Phạm Công T1 là người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Phạm Công T1, Võ Quốc N1 tính đến thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự khi lượng hình. Bị cáo Phạm Công T1 có mẹ là Phạm Thị Đ3 có nhiều thành tích trong công tác và được UBND quận B, TP. tặng giấy khen, có ông ngoại là Phạm Thế S2 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bị cáo N hiện là lao động chính và hiện đang mắc bệnh Tim, gan, tiểu đường đang điều trị bệnh. Bị cáo N1 quá trình học tập được tặng giấy khen do có thành tích trong quá trình học tập và có ông cố là Võ Trung H3 được công nhận là Liệt sỹ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo Võ Quốc N1 hiện đang còn đi học, vai trò tham gia trong vụ án hạn chế, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
[7] - Đối với Hoàng Minh D2 khi thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng chưa đủ 16 tuổi (15 năm 11 tháng tuổi), chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với D2 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, với vai trò đồng phạm là có cơ sở.
- Đối với Phạm Công T1 không đe dọa hay uy hiếp anh Lâm Hồ Tấn D1 để chiếm đoạt xe máy biển số 59NA-104.01, do anh D1 sợ T1 lấy xe không trả lại và không biết T1 gọi điện thoại, nhắn tin để trả lại xe nên anh D1 mới báo bị cướp xe để cơ quan Công an lấy lại xe cho anh D1. Nhưng thực tế, anh D1 cho T1 mượn xe máy biển số 59NA-104.01 và T1 có liên hệ để trả lại xe anh D1, nên Cơ quan điều tra không xử lý T1 về tội “Cướp tài sản” là có cơ sở.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số Imei: 356735085918606, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Nguyễn Quốc Đ1 sử dụng cá nhân. Xét không liên quan hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho anh Nguyễn Quốc Đ1.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei 1 : 356546103390920, số Imei 2: 356546103433639, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Hoàng Minh H2 sử dụng cá nhân. Xét không liên quan hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho anh Hoàng Minh H2.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số Imei 1 : 356166095391263, số Imei 2: 356166093136298, đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị vỡ. Đây là điện thoại di động của Võ Quốc N1 sử dụng cá nhân. Xét không liên quan hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho Võ Quốc N1.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số Imei: 351109799911296, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Nguyễn Thị Hồng N sử dụng gọi cho Phạm Công T1 đến đánh nhau. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei: 353045099427799, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động của Phạm Công T1 sử dụng nghe cuộc gọi của Nguyễn Thị Hồng N rủ đi đánh nhau. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 áo sơmi ngắn tay, màu xám; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 cái khẩu trang màu trắng; 01 cây ba chĩa bằng kim loại, dài khoảng 2m, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục, hung khí của Phạm Công T1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 áo thun ngắn tay, màu đen, phía trước bên ngực trái có in logo KAUAI màu đỏ; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép kẹp, màu đen; 01 cái ghế nhựa màu xanh, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục, hung khí của Võ Quốc N1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 áo sơmi ngắn tay màu nâu sọc trắng, trên áo có in chữ BURBLONENDR; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép kẹp, màu đen, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục của Hoàng Minh H2 sử dụng khi thực hiện hành vi đánh nhau. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển số 50N2-477.63, số máy: JA70E-0016614, số khung: RLHJA3930PY012919; 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu trắng đen, biển số 50N1-389.53, số máy: JA38E-0120367, số khung: RLHJA3825GY037372, đều đã qua sử dụng và không bị đục lại số khung, số máy (BL 51, 52).
Qua xác minh, 02 xe máy trên đều do ông Nguyễn Văn T8 (cha ruột của Phạm Công T1), địa chỉ 1 P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu (BL 46, 47). Qua làm việc, ông Phạm Văn T2 trình bày 02 xe máy trên do ông mua và đứng tên chủ sở hữu, ngày 28/4/2024 T1 tự ý lấy 02 xe máy trên để cùng bạn đi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, yêu cầu nhận lại 02 xe máy trên (BL 167), nên Cơ quan điều tra đã trả lại 02 xe máy trên cho ông T2 (BL 54) là phù hợp.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 59NA-104.01, số máy: JA39E3056789, số khung: RLHJA3924PY715124, đã qua sử dụng, không bị đục lại số khung, số máy (BL 50). Qua xác minh, xe máy trên do chị Lâm Thị Thanh H1 (mẹ ruột của Lâm Hồ Tấn D1), địa chỉ 3/26/4 đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu (BL 48). Qua làm việc, chị Lâm Thị Thanh H1 trình bày xe máy trên do chị mua và đứng tên chủ sở hữu, ngày 28/4/2024 D1 tự ý lấy xe máy biển số 59NA-104.01 đi chơi và cho Phạm Công T1 mượn xe máy trên. Ban đầu, D1 thấy lực lượng Công an truy đuổi T1, D1 lo sợ bị mất xe nên nói bị T1 cướp xe máy nhưng thực tế, D1 cho T1 mượn xe máy trên, yêu cầu nhận lại xe máy trên (BL 97), nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy trên cho chị H1 (BL 54) là phù hợp.
[9] Án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1 đều phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng".
[2] Áp dụng: điểm b, d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N;
[2.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 18/09/2024.
[3] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58, 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Công T1.
[3.1] Xử phạt: bị cáo Phạm Công T1 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 30/04/2024.
[4] Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 50, 58, 65; 90, 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Quốc N1;
[4.1] Xử phạt: bị cáo Võ Quốc N1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/12/2024).
Giao bị cáo Võ Quốc N1 cho UBND phường B, quận B, TP . giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo”.
[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơmi ngắn tay, màu xám; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 cái khẩu trang màu trắng; 01 cây ba chĩa bằng kim loại, dài khoảng 2m, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục, hung khí của Phạm Công T1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo thun ngắn tay, màu đen, phía trước bên ngực trái có in logo KAUAI màu đỏ; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép kẹp, màu đen; 01 cái ghế nhựa màu xanh, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục, hung khí của Võ Quốc N1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo sơmi ngắn tay màu nâu sọc trắng, trên áo có in chữ BURBLONENDR; 01 quần tây dài, màu đen; 01 đôi dép kẹp, màu đen, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục của Hoàng Minh H2 sử dụng khi thực hiện hành vi đánh nhau.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, số I: 351109799911296, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei: 353045099427799, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho anh Nguyễn Quốc Đ1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số Imei: 356735085918606, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho Hoàng Minh H2: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei 1: 356546103390920, số Imei 2: 356546103433639, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho Võ Quốc N1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu vàng, số Imei 1: 356166095391263, số Imei 2: 356166093136298, đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị vỡ.
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 184/LNK-ĐTTH ngày 05/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[6] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, Phạm Công T1, Võ Quốc N1, Luật sư bào chữa cho các bị cáo là người chưa thành niên, người giám hộ cho bị cáo là người chưa thành niên có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
(Đã giả thích chế định án treo cho bị cáo Võ Quốc N1).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 246/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 246/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
