|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 246/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2024. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 782/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 274/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: khu phố 1, phường L, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Đinh Lê Hà H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: khu phố 1, phường L, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đầu năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống thường xuyên cãi vã nhau, ông H không chăm lo cuộc sống gia đình. Hiện tại, vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng ai việc ai người đó làm không ai quan tâm gì đến nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nhiều lần hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H.
- Về con chung: Bà H xác định có 01 con chung, là cháu Đinh Nguyễn Hà M, sinh ngày 09/9/2016. Ly hôn, bà H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu M. Tạm thời bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bà không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.
* Bị đơn ông Đinh Lê Hà H được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Toà án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực
hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H, cho bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H; Về con chung: Giao cháu Đinh Nguyễn Hà M, sinh ngày 09/9/2016 cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Minh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[2] Về tư cách đương sự: Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Nguyễn Thị Minh H là nguyên đơn, ông Đinh Lê Hà H là bị đơn.
[3] Về thẩm quyền giải quyết: Theo Biên bản xác minh ngày 06/5/2024 của Công an phường L cung cấp ông Đinh Lê Hà H hiện nay đang cư trú tại địa chỉ số 521/32, khu phố 1, phường L, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[4] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho ông Đinh Lê Hà H nhưng ông H không đến Toà làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên toà xét xử, bà Nguyễn Thị Minh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227,
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông H, bà H.
[5] Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh H, HĐXX xét thấy: Bà Nguyễn Thị Minh H và ông Đinh Lê Hà H tự nguyện kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình chung sống theo bà H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đầu năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống thường xuyên cãi vã nhau, ông H không chăm lo cuộc sống gia đình. Hiện tại, vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng ai việc ai người đó làm không ai quan tâm gì đến nhau. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nhiều lần hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H theo quy định nhưng ông H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông H đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với bà H. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bà H vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với ông H nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H.
[6] Về con chung: Theo bà H vợ chồng ông bà có 01 con chung, là cháu Đinh Nguyễn Hà M, sinh ngày 09/9/2016. Ly hôn, bà H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đinh Nguyễn Hà M, tạm thời không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với ông H. Hội đồng xét xử xét thấy cháu M có nguyện vọng ở với bà H, xét nguyện vọng của cháu M là hoàn toàn chính đáng. Hiện nay cháu M còn nhỏ và là con gái cần sự chăm sóc của mẹ hơn và để không làm xáo trộn đời sống, tâm sinh lý và việc học của cháu M. Vì vậy, cần thiết giao cháu M cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ông H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
[7] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[8] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Đinh Lê Hà H không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyên Thị Minh H, cho bà Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với ông Đinh Lê Hà H.
2. Về con chung: Giao cháu Đinh Nguyễn Hà M, sinh ngày 09/9/2016 cho bà H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Ông H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Nguyễn Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp tại biên lai số 0003155 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Nguyễn Thị Minh H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Đinh Lê Hà H không phải nộp án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Minh H, ông Đinh Lê Hà H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhân:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh |
Bản án số 246/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 246/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh H
