|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 246/2023/HS-ST
Ngày: 15/11/2023
NHÂN DANH
NỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Duy K.
- Bà Nguyễn Thị Hữu.
Nghề nghiệp: Công chức.
Nghề nghiệp: Giáo viên.
Th ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Anh – Th ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn-Tp H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 210/2023/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đa vụ án ra xét xử số 239/2023/QĐXXST- HS ngày 17/10/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2023/QĐST-HS ngày 02/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Văn Mạnh, sinh năm 1978.
ĐKNKTT và nơi c trú: Thôn Bình A, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, T/p Hà Nội; Dân tộc Kinh; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Con ông Ngô Văn Lý và bà Đồng Thị Năm; Vợ: Nguyễn Thị Luận; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; Theo danh chỉ bản số [...] do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 18/7/2023 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi c trú; Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Trịnh Văn Đức, sinh năm 1966.
ĐKNKTT và nơi c trú: Thôn Bình A, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, T/p Hà Nội; Dân tộc Kinh; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 6/10; Con ông Trịnh Văn Tân và bà Nguyễn Thị Cảnh; Vợ: Nguyễn Thị Năm; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994; Theo danh chỉ bản số [...] do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 18/7/2023 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về nhân thân: Kết quả tra cứu tiền án tiền sự của bị can xác định năm 2002, bị can bị xử lý về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, qua xác minh hồ sơ lưu trữ xác định năm 2002 không có hồ sơ lưu trữ về việc xử lý đối với bị can Trịnh Văn Đ.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi c trú; Có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Nguyễn Thị Thuỷ, sinh năm 1967.
ĐKNKTT và nơi c trú: Thôn A Lạc, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, T/p Hà Nội; Dân tộc Kinh; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 6/10; Con ông Nguyễn Văn Dỉnh và bà Nguyễn Thị Luận; Chồng: Đàm Văn Hiền; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1993; Theo danh chỉ bản số [...] do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 18/7/2023 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi c trú; Có mặt tại phiên toà.
4. Họ và tên: Phạm T, sinh năm 1981.
ĐKNKTT và nơi c trú: Thôn 5, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, T/p Hà Nội; Dân tộc Kinh; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Con ông Phạm Văn Sơn và bà Nguyễn Thị Dự; Vợ: Nguyễn Thị N; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016; Theo danh chỉ bản số [...] do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 18/7/2023 thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi c trú; Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Công ty T6
Đại diện theo pháp luật: ông Suzuki Y.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đậu Quang Huy, sinh năm 1989- Phó tổng giám đốc.
Địa chỉ: Số 9, ngõ 21, đờng Nguyễn Văn Huyên, phòng Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà N1.
* Ngời làm chứng:
- Anh Nguyễn Kim Thìn - sinh năm 1987.
- Anh Nguyễn K- sinh năm 1996.
- Bà Vũ Thị Thơng- sinh năm 1973.
- Chị Lô Thị Thu- sinh năm 1997,
Cùng địa chỉ: Thôn 5, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà N1.
- Bà Trần Thị Luận - sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn Thống Nhất, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà N1.
- Anh Nguyễn Trọng P- sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn Sơn Đoài, xã Tân M, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà N1.
(Vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại và vắng mặt những ngời làm chứng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đợc tóm tắt nh sau:
Ngô Văn M1 (sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã T, huyện S) là công nhân lái xe máy kéo gom rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại của Công ty Y2 (Viết tắt là Y1) có trụ sở tại thôn B, xã T, huyện S. Trong quá trình làm việc, M1 thấy việc quản lý phôi sắt phế liệu của xưởng đúc sơ hở nên lén lút trộm cắp 30 bao tải phôi sắt phế liệu của Công ty tại xưởng đúc, sau đó mang ra khu tập kết phế liệu cách xưởng đúc cách khoảng gần 1km nhằm mục đích đưa ra ngoài tiêu thụ. Ngày 24/4/2023, M1 thuê Trịnh Văn Đ (sinh năm 1966, trú tại thôn B, xã T, huyện S) và Nguyễn Thị T (sinh năm 1967, trú tại thôn A, xã T, huyện S) là công nhân khu bãi rác đúc gia công để trộm cắp phôi sắt phế liệu với giá 3 triệu đồng/1 xe. Sau đó, Đ đã trộm cắp được 31 bao phôi sắt phế liệu, T trộm cắp được 29 bao phôi sắt phế liệu rồi chở ra khu tập kết rác thải của Công ty cho M1 để chờ đưa đi tiêu thụ.
Ngày 27/4/2023, lợi dụng việc quản lý sơ hở của công ty T6, Phạm Thành N2 (sinh năm 1981, trú tại thôn E, xã H, huyện S) nảy sinh ý định trộm cắp rác thải có giá trị, N2 đã thuê Nguyễn Kim T1, sinh năm 1987 là lái xe chở rác Biển kiểm soát 29C-751.66 của Công ty cổ phần M2, Nguyễn Kim T2, sinh năm 1996; Vũ Thị T3, sinh năm 1973; Lô Thị T4, sinh năm 1997 cùng trú tại thôn E, xã H, huyện S; Trần Thị L, sinh năm 1974 trú tại thôn T, xã T, huyện S; Nguyễn Trọng P1, sinh năm 1994, trú tại thôn S, xã T, huyện S đến công ty T6 để bốc rác. Khoảng 11h30 cùng ngày, T1 điều khiển xe rác vào khu tập kết rác của Công ty để N2, T2, T3, T4, L, Phú nhặt các mảnh bìa cattong cho vào thùng xe. Lúc này, M1 đến trao đổi bán toàn bộ phôi sắt phế liệu gồm khoảng 90 bao tải với giá 15 triệu đồng và hẹn sau khi mang ra ngoài tiêu thụ được mới trả tiền cho M1. Mặc dù biết toàn bộ số phôi sắt phế liệu là do N2 trộm cắp mà có nhưng do hám lợi nên N2 đã đồng ý mua. Sau đó, N2 thuê T2, T3, T4, L, Phú bốc toàn bộ số bao tải phôi sắt phế liệu lên xe rác. Đến khoảng 13h30 phút, T1 điều khiển xe chở số phôi sắt phế liệu và bìa catong đi về, khi đến chốt kiểm tra của Công ty T6 thì bị phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 6230kg sắt vụn và 230 kg giấy bìa cattong.
Kết quả cân xác định, 30 bao tải phôi sắt phế liệu do M1 trộm cắp có khối lượng 4890kg; 31 bao tải phôi sắt phế liệu do Đ trộm cắp có khối lượng 710kg; 29 bao tải phôi sắt phế liệu do T trộm cắp có khối lượng 630 kg.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 200/ KL-HĐ ngày 03/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 6.230 kg sắt vụn (phoi sắt) có giá: 42.831.250 đồng, tương đương 6.875 đồng/kg; 230 kg bìa cát tông có giá: 592.250 đồng. Tổng cộng: 43.423.500 đồng.
Tổng giá trị tài sản M1 chiếm đoạt là 42.831.250 đồng; Tổng giá trị tài sản Đ chiếm đoạt là 4.881.250 đồng; Tổng giá trị tài sản T5 chiếm đoạt là 4.331.250 đồng; Tổng giá trị tài sản Nam tiêu thụ là 42.831.250 đồng.
Về vật chứng tạm giữ: Đối với 6.230 kg sắt vụn (phôi sắt) và 230 kg bìa cát tông là tài sản hợp pháp của Công ty T6 nên ngày 06/7/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty T6. Đối với chiếc xe tải chở rác Biển kiểm soát 29C-751.66 là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần M2, việc T1 lái xe vào Công ty T6 để bốc rác công ty không biết nên ngày 06/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty M2.
Đối với Nguyễn Kim T1, Nguyễn Kim T2, Vũ Thị T3, Lô Thị T4, Trần Thị L, Nguyễn Trọng P1 được Phạm Thành N2 thuê đến Công ty T6 để bốc rác, không biết các tài sản Nam thuê bốc lên xe rác là tài sản trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi trộm cắp 230kg bìa cát tông của Phạm Thành N2, do giá trị tài sản trộm cắp không đủ định lượng cấu thành tội Trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N2 là phù hợp.
Về dân sự: Anh Đậu Quang H – Đại diện theo ủy quyền của Công ty T6 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu các bị can phải bồi thường.
Tại cơ quan điều tra cũng nh tại phiên toà, các bị cáo Ngô Văn Mạnh, Trịnh Văn Đức, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Thành Nam đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai ngời làm chứng, lời khai ngời đại diện theo uỷ quyền của bị hại, Kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 199/CT-VKS ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc sơn truy tố Ngô Văn Mạnh, Trịnh Văn Đức và Nguyễn Thị Thuỷ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phạm Thành Nam về tội “Tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, nội dung vụ án giữ nguyên quyết đinh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nh Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, BLHS đối với Ngô Văn Mạnh. Đề nghị xử phạt Ngô Văn Mạnh từ 24 đến 30 tháng tù nhng cho hởng án treo, thử thách từ 48 tháng đến 05 năm kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều BLHS đối với Trịnh Văn Đức. Đề nghị xử phạt Trịnh Văn Đức từ 06 đến 09 tháng tù nhng cho hởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều BLHS đối với Nguyễn Thị Thuỷ. Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Thuỷ từ 06 đến 09 tháng tù nhng cho hởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 323, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều BLHS đối với Phạm T. Đề nghị xử phạt Phạm Thành Nam từ 21 đến 24 tháng tù nhng cho hởng án treo, thử thách từ 42 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có”.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo do các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp.
Về vật chứng: Không đặt ra giải quyết do tài sản đã đợc thu hồi ngay để trả lại bị hại, công ty YAMAHA cũng không có yêu cầu khác về dân sự.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phần nói lời sau cùng các bị cáo đều ăn năn hối lỗi, xin đợc khoan hồng và xin đợc hởng án treo vì điều kiện khó khăn nhất thời phạm tội.
Căn cứ vào tài liệu đợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đánh giá toàn bộ chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đợc tranh tụng tại phiên toà, H1 đồng xét xử nhận định nh sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng đối với việc khởi tố điều tra, truy tố các bị cáo Ngô Văn Mạnh, Trịnh Văn Đức, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Thành Nam của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngời tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn cũng nh Điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hoàn toàn đúng quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, ngoài ra cũng không có khiếu nại tố cáo trong quá trình tố tụng. Do vậy, các hành vi cũng nh quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngời tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Từ đó có đủ cơ sở xác định:
Ngô Văn M1 là công nhân lái xe máy kéo gom rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại của Công ty Y2 (Viết tắt là T6). Trong quá trình làm việc, M1 thấy việc quản lý phôi sắt phế liệu của xưởng đúc sơ hở nên lén lút trộm cắp 30 bao tải phôi sắt phế liệu của Công ty tại xưởng đúc, sau đó mang ra khu tập kết phế liệu cách xưởng đúc cách khoảng gần 1km nhằm mục đích đưa ra ngoài tiêu thụ. Ngày 24/4/2023, M1 thuê Trịnh Văn Đ và Nguyễn Thị T là công nhân khu bãi rác đúc gia công để trộm cắp phôi sắt phế liệu với giá 3 triệu đồng/1 xe. Sau đó, Đ đã trộm cắp được 31 bao phôi sắt phế liệu, T trộm cắp được 29 bao phôi sắt phế liệu rồi chở ra khu tập kết rác thải của Công ty cho M1 để chờ đưa đi tiêu thụ.
Ngày 27/4/2023, lợi dụng việc quản lý sơ hở của công ty T6 và việc giữa công ty YAMAHA có ký hợp đồng vận chuyển xử lý chất thải đối với công ty cổ phần môi trờng đô thị Sóc Sơn, Phạm Thành N2 nảy sinh ý định trộm cắp rác thải có giá trị là bìa các tông, N2 đã thuê Nguyễn Kim T1, sinh năm 1987 là lái xe chở rác Biển kiểm soát 29C-751.66 của Công ty cổ phần M2, Nguyễn Kim T2, sinh năm 1996; Vũ Thị T3, sinh năm 1973; Lô Thị T4, sinh năm 1997 cùng trú tại thôn E, xã H, huyện S; Trần Thị L, sinh năm 1974 trú tại thôn T, xã T, huyện S; Nguyễn Trọng P1, sinh năm 1994, trú tại thôn S, xã T, huyện S đến công ty T6 để bốc rác. Khoảng 11h30 cùng ngày, T1 điều khiển xe rác vào khu tập kết rác của Công ty để N2, T2, T3, T4, L, Phú nhặt các mảnh bìa cattong cho vào thùng xe. Lúc này, M1 đến trao đổi bán toàn bộ phôi sắt phế liệu gồm khoảng 90 bao tải với giá 15 triệu đồng và hẹn sau khi mang ra ngoài tiêu thụ được mới trả tiền cho M1. Mặc dù biết toàn bộ số phôi sắt phế liệu là do N2 trộm cắp mà có nhưng do hám lợi nên N2 đã đồng ý mua. Sau đó, N2 thuê T2, T3, T4, L, Phú bốc toàn bộ số bao tải phôi sắt phế liệu lên xe rác. Đến khoảng 13h30 phút, T1 điều khiển xe chở số phôi sắt phế liệu và bìa catong đi về, khi đến chốt kiểm tra của Công ty T6 thì bị phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 6230kg sắt vụn và 230 kg giấy bìa cattong.
Kết quả cân xác định, 30 bao tải phôi sắt phế liệu do M1 trộm cắp có khối lượng 4890kg; 31 bao tải phôi sắt phế liệu do Đ trộm cắp có khối lượng 710kg; 29 bao tải phôi sắt phế liệu do T trộm cắp có khối lượng 630 kg.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 200/ KL-HĐ ngày 03/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 6.230 kg sắt vụn (phoi sắt) có giá: 42.831.250 đồng, tương đương 6.875 đồng/kg; 230 kg bìa cát tông có giá: 592.250 đồng. Tổng cộng: 43.423.500 đồng.
Tổng giá trị tài sản M1 chiếm đoạt là 42.831.250 đồng trong đó giá trị tài sản Đ chiếm đoạt là 4.881.250 đồng; giá trị tài sản Thuỷ chiếm đoạt là 4.331.250 đồng; Tổng giá trị tài sản Nam tiêu thụ là 42.831.250 đồng.
Hành vi lợi dụng việc sơ hở trong quản lý tài sản của công ty YAMAHA, Mạnh đã cùng với Trịnh Văn Đức và Nguyễn Thị Thuỷ trộm cắp 6.230 kg sắt vụn (phoi sắt) có giá: 42.831.250 đồng, tương đương 6.875 đồng/kg đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS, điều khoản này quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Ngoài ra ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mơi triệu đồng theo Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi nhận mua lại số phôi sắt vụn nói trên có giá trị 42.831.250 đồng của Mạnh với giá 15.000.000đ để bán kiếm lời của Phạm Thành Nam đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự; điều khoản này quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Ngoài ra ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mơi triệu đồng theo Khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của tổ chức kinh tế đã được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức đợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhng do tham lam, t lợi, muốn kiếm tiền bằng hành vi bất hợp pháp, coi thờng pháp luật nên đã cố tình phạm tội làm cho tình hình trị an thêm phức tạp. Việc đa các bị cáo ra xét xử là cần thiết để răn đe giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào việc đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội trộm cắp cũng nh tiêu thụ tài sản đã và đang diễn ra thờng xuyên trên thực tế hiện nay. Xét vai trò cá thể hóa trách nhiệm từng bị cáo trong vụ án thì xác định Ngô Văn Mạnh là ngời thực hiện và rủ rê lôi kéo Trịnh Văn Đức và Nguyễn Thị Thuỷ cùng tham gia trộm cắp, nên giữ vai trò cao nhất, Trịnh Văn Đức và Nguyễn Thị Thuỷ là ngời thực hành, mức độ nh nhau nên giữ vai trò thứ hai và ngang nhau, Phạm Thành Nam phạm loại tội độc lập.
[2] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét vai trò của từng bị cáo:
Tại phiên toà các bị cáo đợc xác định khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên cho tất cả bốn bị cáo đợc hởng tình tiết giảm nhẹ đợc quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo đều đợc xác định là phạm tội lần đầu và thuộc trờng hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS. Tài sản trộm cắp đã đợc thu hồi ngay sau khi phạm tội (Tài sản cha dịch chuyển khỏi công ty do bảo vệ phát hiện và giữ lại) nên đợc hởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội nhng cha gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra hành vi trộm cắp cũng nh tiêu thụ của các bị cáo thuộc trờng hợp cha đạt nên cần xem xét và áp dụng quy định về phạm tội cha đạt và quyết định hình phạt trong trờng hợp phạm tội cha đạt đối với các bị cáo để đảm bảo tính khách quan và chính xác khi quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo Ngô Văn Mạnh, ngoài những tình tiết giảm nhẹ nh đã phân tích thì bị cáo có bố là Ngô Văn Lý tham gia cách mạng, đợc thởng Huân chơng kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Bị cáo Nguyễn Thị Thuỷ có bố là ông Nguyễn Văn Dỉnh cũng đợc tặng thởng Huân chơng kháng chiến hạng Ba; Bị cáo Phạm Thành Nam có cụ nội Phạm Thị Tỉnh là Mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội là Phạm Văn Xuyền đợc thởng Huân chơng kháng chiến hạng Nhất, hạng Ba, Huân chơng chiến thắng hạng Ba. nên cho các bị cáo Mạnh, T5, Nam hởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo Trịnh Văn Đức, nhân thân bị cáo thể hiện cha có tiền án tiền sự, bị cáo có bị lập danh chỉ bản ngày 16/01/2002 về hành vi gây rối trật tự công cộng tuy nhiên qua xác minh hồ sơ lu trữ năm 2002 không có hồ sơ lu trữ về việc xử lý đối với Trịnh Văn Đức nên không có cơ sở xác định là tiền sự đối với bị cáo.
Các bị cáo đều là thành phần lao động, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nh phạm tội lần đầu và thuộc trờng hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhng cha gây thiệt hại, có nơi c trú cụ thể rõ ràng và đều thành khẩn khai báo, nhận thức rõ về hành vi vi phạm của mình, biết ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo, theo hớng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì các bị cáo có đủ điều kiện để cho hởng án treo nên xét thấy xử các bị cáo với hình phạt tù nhng cho bị cáo hởng án treo dới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phơng cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo thành ngời công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[3] Về vật chứng và phần bồi thường dân sự: Vật chứng đã đợc thu hồi ngay và trả lại cho bị hại và Cơ quan điều tra cũng không thu giữ vật chứng nào khác nên không đặt ra giải quyết.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu gì khác vì vậy HĐXX không đặt ra giải quyết.
[4] Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 173 BLHS cũng nh Khoản 5 Điều 323 BLHS có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 05.000.000₫ đến 50.000.000đ. Theo kết quả điều tra xác minh thì các bị cáo đều chỉ có nghề nghiệp, thu nhập thấp cũng nh cha xâm hại đợc đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, nên không áp dụng đối với các bị cáo.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Ngô Văn Mạnh, Nguyễn Thị Thuỷ.
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Trịnh Văn Đức.
Căn cứ Khoản 1 Điều 323; Điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Phạm T.
Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn Mạnh, Trịnh Văn Đức, Nguyễn Thị Thuỷ phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Nam phạm tội: Tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có.
- Xử phạt: Ngô Văn Mạnh 30 (ba mơi) tháng tù cho hởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt: Trịnh Văn Đức 09 (chín) tháng tù cho hởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt: Nguyễn Thị Thuỷ 09 (chín) tháng tù cho hởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt: P2 (hai mơi bốn) tháng tù cho hởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có.
Giao các bị cáo Ngô Văn Mạnh, Trịnh Văn Đức và Nguyễn Thị Thuỷ cho UBND xã T7 Giã- huyện Sóc Sơn- TP H Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phạm Thành Nam cho UBND xã Hồng Kỳ- huyện Sóc Sơn- TP H Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trờng hợp ngời đợc hởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngời đợc hởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc ngòi đợc hởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hởng án treo.
- Áp dụng Điều 106, 136; Điều 331,333,336,337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP H trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP H trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đợc tống đạt án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- chủ toạ phiên toà Nguyễn Khắc Hải |
Bản án số 246/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 246/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trom cap tai san
