|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 246/2024/HS-ST Ngày 14-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 238/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 906/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 16 tháng 09 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn G, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; có vợ là: Đỗ Thị N (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; C đi khỏi nơi cư trú ngày 02/07/2024; có mặt.
- Bị hại: Chị Phí Thị Thanh H1, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 30/4/2024, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH mode BKS 15B4-18805 đi cùng bạn gái là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1992, địa chỉ: xã D, huyện K, Hải Phòng đến Trung tâm thương mại Aeone Lê C1, Hải Phòng. Sau khi gửi xe ở bãi đỗ xe, V và H2 đi vào khu trong Trung tâm thương mại chơi, do để quên ví ở trong cốp xe nên V quay lại chỗ đỗ xe để lấy ví còn H2 vẫn ở trong Trung tâm thương mại. Khi ra đến chỗ dựng xe, V phát hiện 01 túi xách màu trắng của chị Phí Thị Thanh H1, sinh năm 2002, địa chỉ: xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương để trên yên xe mô tô bên cạnh (cách xe của V 01 xe), không có người trông coi, V nảy sinh ý định trộm cắp nên tiến đến phía sau xe mô tô để túi xách, dùng tay trái lấy túi rồi mang về cho vào trong cốp xe của V, sau đó tiếp tục đi vào trong Trung tâm thương mại. Lo sợ bị phát hiện nên khoảng 10 phút sau V quay ra bãi đỗ xe và điều khiển xe mô tô của mình sang vị trí khác rồi đi vào Trung tâm thương mại. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, V ra lấy xe chở H2 đi về, khi đi qua cổng soát vé F thì bị lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại kiểm tra, phát hiện và thu giữ: 01 túi xách màu trắng bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng ốp màu xanh; 01 ví da màu hồng; 01 căn cước công dân; 01 thẻ Ngân hàng; 01 Giấy phép lái xe đều mang tên Phí Thị Thanh H1; số tiền 3.704.000 đồng. Lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại đã bàn giao V cùng tang vật cho Công an quận L để giải quyết theo quy định.
Cùng ngày, chị Phí Thị Thanh H1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L trình báo về việc mất những tài sản như đã nêu trên.
Cơ quan Công an thu giữ: 01 USB nhãn hiệu Kington, dung lượng 04GB do anh Lương Ngọc A là nhân viên an ninh của Trung tâm thương mại A1 giao nộp bên trong có đoạn Clip ghi lại hình ảnh V trộm cắp tài sản.
Tai bản Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 12/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus đã qua sử dụng có giá trị 800.000 đồng; 01 túi đeo màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 183.000 đồng; 01 ví màu hồng đã qua sử dụng có giá trị 23.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 USB nhãn hiệu Kington ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn V trộm cắp tài sản chuyển theo hồ sơ vụ án;
- Đối với 01 túi xách màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus; 01 ví da màu hồng; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; 01 thẻ ngân hàng; số tiền 3.704.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại chị Phí Thị Thanh H1.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng đen BKS:15B4-188.05, kết quả điều tra xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964, trú tại: Phong C, Đ, K, Hải Phòng (bố đẻ của Nguyễn Văn V). Ông T cho Văn mượn xe nhưng không biết V sử dụng đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông T
Về tránh nhiệm dân sự: Chị Phí Thị Thanh H1 đã nhận lại tài sản đã bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 245/CT-VKS ngày 26/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Chị Phí Thị Thanh H1 là bị hại trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa song đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện: Tài sản bị Nguyễn Văn V lén lút chiếm đoạt gồm: 01 túi xách màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus; 01 ví da màu hồng; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; 01 thẻ ngân hàng; số tiền 3.704.000 đồng. Những tài sản trên đã được thu hồi trả lại cho chị H1, chị H1 không có yêu cầu bồi thường gì khác và chị đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn V với mức hình phạt từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án;
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phí Thị Thanh H1 không có yêu cầu bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp
- Về hành vi trộm cắp tài sản
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 12/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L; phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 30/4/2024 tại khu vực bãi đỗ xe của Trung tâm thương mại A2, bị cáo Nguyễn Văn V quan sát thấy có 01 túi xách màu trắng không có người trông coi, lợi dụng sở hở bị cáo V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc túi xách. Bên trong chiếc túi xách gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus; 01 ví da màu hồng; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; 01 thẻ ngân hàng; số tiền 3.704.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 4.710.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V thoả mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có quan điểm đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích xét thấy:
Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, vì vậy không nhất thiết phải bắt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo V không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phí Thị Thanh H1 đã nhận lại đủ tài sản đã bị chiếm đoạt gồm 01 túi xách màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus; 01 ví da màu hồng; 01 Căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; 01 thẻ ngân hàng; số tiền 3.704.000 đồng nay không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Văn V
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |
Bản án số 246/2024/HS-ST ngày 14/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 246/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V trộm cắp tài sản
