Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 246/2024/HS-ST

Ngày: 27 – 11 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên

Thẩm phán: Bà Lê Thị Ký

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Điền

Bà Lê Ngọc Sương

Bà Vũ Thị Mùi

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 264/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2024/QĐXX-ST ngày 05/11/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2024/HSST – QĐ ngày 19/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L

sinh ngày 23 tháng 11 năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: Số nhà H, B, phường F, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số nhà E, L, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông không xác định và bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1974; bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án:

  • + Ngày 26/8/2016, bị Toà án nhân dân Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số: 103/2016/HSST ngày 26/8/2016). Đến ngày 28/8/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
  • + Ngày 20/5/2021, bị Toà án nhân dân Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 74/2021/HSST ngày 20/5/2021). Đến ngày 18/3/2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
  • Nhân thân: Ngày 13/02/2015, bị Toà án nhân dân Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 16/2015/HSST ngày 13/02/2015). Đến ngày 14/5/2015, bị can đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt ngày 15/5/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc A- Văn phòng Luật sư Nguyễn Ngọc A, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: tòa nhà E, chung cư nhà ở xã H, khu phố A, B, B, Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Bà Hồ Thị E, sinh năm 1963; địa chỉ: D, hẻm F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
  2. Ông Ngô Quang K, sinh năm 1996; địa chỉ: D, hẻm F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, luật sư có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tại liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc L là người có nhiều tiền án và thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/5/2024, L sử dụng mạng xã hội Zalo gọi điện thoại cho 01 người đàn ông tên B (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 25.000.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy tại khu vực đường N thuộc phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô loại Exciter, biển số 84L1-45414 đến điểm hẹn gặp B giao tiền và nhận ma túy. Sau đó, L mang ma túy đến phòng 119, khách sạn T3 thuộc đường D, hẻm F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để sử dụng trái phép thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ:

  • 01 túi xách màu đỏ, bên trong chứa 01 túi màu đen có khóa kéo (bên trong túi màu đen chứa 01 hộp giấy kích thước 10cm x 18 cm màu trắng, bên trong hộp giấy chứa 01 gói nylon dạng túi zip, kích thước khoảng (05x10) cm, chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon dạng túi zip, kích thước khoảng (03x04) cm, chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 đầu cắm sạc điện thoại màu trắng bên trong chứa 01 gói nylon, kích thước khoảng (03x05) cm, chứa tinh thể màu trắng và 04 gói nylon, mỗi gói có kích thước khoảng (01x02) cm, chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa có kích thước khoảng 02cm, hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 nỏ thủy tinh; 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 5G, số imei: 354156124019888, số thuê bao: 0565589484; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F7, số imei 1: 868473037827391, số thuê bao: 0346014544 bị nứt màn hình.
  • 01 xe môtô nhãn hiệu Exciter, biển số 84L1-45414.

* Tại Kết luận giám định số 1046/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 110,911 gam loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 223/CT-VKS-P1 ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo: Nguyễn Hoàng L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

  • Về tội danh : Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
  • Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Bị cáo phạm vào tình tiết tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 20 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy tổng số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định; 01 túi xách màu đỏ; 01 túi màu đen có khóa kéo; 01 hộp giấy kích thước 10cm x 18 cm màu trắng; 01 đầu cắm sạc điện thoại màu trắng và 01 nỏ thủy tinh.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F7, số imei 1: 868473037827391, số thuê bao: 0346014544 bị nứt màn hình là phương tiện của Nguyễn Ngọc L dùng vào việc phạm tội.
  • T1 trả cho Nguyễn Ngọc L: 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 5G, số imei: 354156124019888, số thuê bao: 0565589484 là tài sản riêng của L không liên quan đến hành vi phạm tội.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa:

Thống nhất tội danh và điều luật, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tụng tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố, tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 14/5/2024, tại phòng 119, khách sạn T3 thuộc đường D, hẻm F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Ngọc L có hành vi tàng trữ trái phép 110,911 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội danh theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo biết rõ việc sử dụng chất ma túy là nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe con người nhưng để thỏa mãn nhu cầu có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện việc mua bán ma túy về sử dụng cho bản thân. Thiết nghĩ, cần xử các bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly vĩnh viễn ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.3 Quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét bị cáo có 01 nhân thân năm 2015 về hành vi trộm cắp tài sản để đưa ra một mức án phù hợp với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy tổng số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định (số 1046/KL-KTHS); 01 túi xách màu đỏ; 01 túi màu đen có khóa kéo; 01 hộp giấy kích thước 10cm x 18 cm màu trắng; 01 đầu cắm sạc điện thoại màu trắng và 01 nỏ thủy tinh.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F7, số imei 1: 868473037827391 bị nứt màn hình là phương tiện của Nguyễn Ngọc L dùng vào việc phạm tội.

T1 trả cho Nguyễn Ngọc L: 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 5G, số imei: 354156124019888 là tài sản riêng của L không liên quan đến hành vi phạm tội.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[7] Quan điểm bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông tên B (không rõ nhân thân) bán ma túy cho Nguyễn Ngọc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại Exciter, biển số 84L1-45414 thu giữ của Nguyễn Ngọc L. Qua xác minh xác định chủ xe ông Trần Văn Minh T2 (sinh năm 2000) ngụ tại xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do chưa làm việc được với ông T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy tổng số ma túy còn lại đã được niêm phong sau giám định số 1046/KL-KTHS ngày 22/5/2024; 01 túi xách màu đỏ; 01 túi màu đen có khóa kéo; 01 hộp giấy kích thước 10cm x 18 cm màu trắng; 01 đầu cắm sạc điện thoại màu trắng và 01 nỏ thủy tinh.
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F7, số imei 1: 868473037827391 bị nứt màn hình là phương tiện của Nguyễn Ngọc L dùng vào việc phạm tội.
    • T1 trả cho Nguyễn Ngọc L: 01 điện thoại di động hiệu S Fold2 5G, số imei: 354156124019888 là tài sản riêng của L không liên quan đến hành vi phạm tội.
    • Toàn bộ vật chứng trên được giao qua Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số NK25/08 ngày 17/10/2024.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV 27 – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo (1).
  • - Luật sư;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ký

Nguyễn Thị Quyên

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 246/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 246/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger