|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:246/2024/HS-ST Ngày 19/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Đức Lê .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Ông Dương Văn Qúi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 260/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Trọng N; giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: nhà không số ấp I, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Làm hồ; con ông: Lê Minh H và bà Nguyễn Thị Tuyết M; Tiền án: Bản án 14/2022/HSST ngày 27/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án 88/2011/HSST ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án 118/2013/HSST ngày 17/5/2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án 224/2015/HSST ngày 09/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 29/4/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi sinh sống: D ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
2. Lỷ Nhộc K, sinh năm 1994; Hộ khẩu thường: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: D ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N1, Địa chỉ: T, G, P, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 23/4/2024, Lê Trọng N điều khiển xe máy Honda Vario màu sơn xanh biển số 66F2-001.53 chờ Nguyễn Thị N1 (sống chung như vợ chồng, có 01 con chung) chạy ngang qua nhà số D, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy cửa sổ của tầng 1 không đóng nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhưng không nói với N1 mà chỉ kêu N1 điều khiển xe máy chạy ra quán nước chờ để N vào nhà bạn mượn tiền, khi nào về sẽ gọi N1 quay lại đón. Thấy N1 điều khiển xe máy đi khuất, N leo lên trụ điện bên hông nhà số D để lên cửa sổ tầng 1 rồi đột nhập vào bên trong. Quan sát thấy chủ nhà là anh Nguyễn Văn Q và vợ là chị Lỷ Nhộc K đang ngủ say nên N lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Pro max 128Gb có nắp lưng màu đen, 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Pro max 64Gb có nắp lưng màu đen, 01 túi đeo có kích thước 20x22x8 cm chất liệu simili màu đen không có nhãn hiệu bên trong có 02 nhẫn vàng 18K có trọng lượng 5 phân/chiếc (có 1 chiếc đính hạt đá nhân tạo) và 01 ví nam có kích thước 10 x 8cm chất liệu simili màu đen bên trong có số tiền 6.000.000 đồng rồi trèo qua cửa sổ tầng 1 để tẩu thoát. Chị K nghe tiếng động nên giật mình tỉnh dậy và tri hô nhưng N đã tẩu thoát.
Trên đường bỏ chạy, N lấy hết 6.000.000 đồng rồi vứt bỏ túi xách. Sau đó, N gọi điện thoại cho N1 đến đón về nhà không số ấp I, xã V, huyện B. Nhung ở nhà ngủ còn N đem 02 điện thoại vừa trộm được bán cho T chưa xác định lai lịch với giá 5.500.000 đồng tại trước nhà số D đường H, ấp B, quận B. Khoảng 02 ngày sau, N đưa cho N1 3.500.000 đồng nói là tiền ứng lương, số còn lại N tiêu xài.
Ngày 27/4/2024, anh Q trình báo sự việc đến Công an xã T. Qua truy xét, ngày 29/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H triệu tập Lê Trọng N đến trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, N khai nhận hành vi phạm tội như trên. Đối với 02 chiếc nhẫn bằng vàng, N không kiểm tra kỹ các ngăn kéo nên không biết bên trong có nhẫn bằng vàng và đã vứt bỏ trên đường tẩu thoát, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 10/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện H đối với:
Điện thoại di động Iphone 14 Pro max 128Gb màu đen (SF293NPWF2P) có giá 20.000.000 đồng; Điện thoại di động Iphone 11 Pro max 64Gb màu đen có giá 9.000.000 đồng; Nhẫn nữ kim loại vàng 18K có trọng lượng 5 phân có mặt chữ K có giá 2.699.500 đồng; Nhẫn nữ kim loại vàng 18K có trọng lượng 5 phân có đính đá có giá 2.699.500 đồng, hạt đá giả không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá.
Túi đeo có kích thước (20x22x8)cm chất liệu Simili màu đen không có nhãn hiệu và ví nam có kích thước (10x8)cm chất liệu Simili màu đen không có nhãn hiệu không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá.
Vật chứng thu giữ:
Số tiền 2.200.000 đồng mà Lê Trọng N giao nộp đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Q theo quyết định xử Lý vật chứng số 2036/QĐ-CSĐT-HS ngày 14/5/2024.
01 xe máy Honda Vario màu xanh biển số 66F2-00153 có số máy JM41E1777266 số khung MH1JM4113MK777977 có kết quả giám định số khung số máy không thay đổi. Kết quả xác minh thông tin số khung số máy xe này được đăng ký biển số 66F2-00153 do Lê Trọng Nghĩa là chủ xe. Đây là phương tiện được N sử dụng thực hiện tội phạm.
01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15, số sê ri RFS8WC01BIZA, Imei 1: 357301900630550 gắn sim thuê bao số 0778445177. Đây là công cụ được N sử dụng thực hiện tội phạm.
01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu nâu. Đây là trang phục N mặc khi thực hiện hành vi phạm tội
Về dân sự: Nguyễn Thị N1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q số tiền 5.000.000đồng, anh Q có yêu cầu N phải tiếp tục bồi thường thêm số tiền là 20.000.000 đồng; chị Lỷ N2 Kíu yêu cầu N bồi thường số tiền là 15.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 226/CT-VKSH.HM ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Trọng N mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về xử Lý vật chứng:Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu nâu; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe máy Honda Vario màu xanh biển số 66F2-00153; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15 gắn sim thuê bao số 0778445177. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị
cáo Lê Trọng N bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Q số tiền 20.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lỷ N2 Kỉu số tiền 15.000.000.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng 02 giờ ngày 27/4/2024, tại địa chỉ nhà số D, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Trọng N có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu iphone 14 Pro max 128Gb có nắp lưng màu đen trị giá 20.000.000đồng và 6.000.000đồng của anh Nguyễn Văn Q; 01 điện thoại di động hiệu iphone 11 Pro max 64Gb có nắp lưng màu đen trị giá 9.000.000đồng, 02 nhẫn vàng 18K trị giá 5.399.000đồng của chị Lỷ Nhộc K. Tổng trị giá tài sản bị N chiếm đoạt là 40.399.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trọng Nghĩa L nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì tham lam hám lợi, lười lao động mà bị cáo đã bất chấp hậu quả, có thái độ xem thường pháp luật. Xét về nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án kết án nhiều lần và hiện đang có 01 tiền án, đáng lẽ ra bị cáo lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân thành người có ích cho xã hội; nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội để có tiền tiêu xài. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Thị N1 Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã trả hồ sơ để điều tra do xét thấy hành vi của N1 có dấu hiệu phạm tội với vai trò đồng phạm. Trong quá trình điều tra N1 đã thay đổi lời khai 3 lần, nhằm mục đích trốn tránh, chối tội và các lời khai có mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn vẫn giữ nguyên quan điểm, do giới hạn xét xử nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn chỉ có thể xét xử vụ án theo quy định tại 298 Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về xử Lý vật chứng:
01 xe máy Honda Vario màu xanh biển số 66F2-00153 có số máy JM41E1777266 số khung MH1JM4113MK777977 có kết quả giám định số khung số máy không thay đổi. Kết quả xác minh thông tin số khung số máy xe này được đăng ký biển số 66F2-00153 do Lê Trọng Nghĩa là chủ xe. Đây là phương tiện được N sử dụng thực hiện tội phạm. Do đó, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước chiếc xe trên.
01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15, số sê ri RFS8WC01BIZA, Imei 1: 357301900630550 gắn sim thuê bao số 0778445177. Đây là công cụ được N sử dụng thực hiện tội phạm. Do đó, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại trên.
01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu nâu. Đây là trang phục N mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về dân sự: Nguyễn Thị N1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q số tiền 5.000.000đồng, anh Q có yêu cầu N phải tiếp tục bồi thường thêm số tiền là 20.000.000 đồng; chị Lỷ N2 Kíu yêu cầu N bồi thường số tiền là 15.000.000 đồng. Do đó, cần buộc bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho anh Q và 15.000.000 đồng cho chị K.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
1. Xử phạt:
- Bị cáo Lê Trọng N 02 (Hai) năm 06 (Sá) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2024; 2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 288 ; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Trọng N bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Q số tiền 20.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lỷ N2 Kỉu số tiền 15.000.000.
Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun dài tay màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu nâu.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu: Honda, số loại: Vario 125, màu sơn: xanh đen, biển số: 66F2-00153, có số máy: JM41E1777266, số khung: MH1JM4113MK777977; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A15, số sê ri RFS8WC01BIZA, Imei 1: 357301900630550 gắn sim thuê bao số 0778445177.
(Vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 197/QĐ-VKS-HM ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
4. Về án phí:
Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Lê |
Bản án số 246/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 246/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
