|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 246/2024/DS-ST
Ngày 21 – 8 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Dân
Ông Huỳnh Minh Bền
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Tiết Ánh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2024/TLST-DS, ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2024/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: Số A, đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Lưu Trung T; Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Thanh T1 – Chuyên viên xử lý nợ công ty M. Có mặt.
-
Bị đơn: Ông Trương Mạnh T2, sinh năm 1986;
Bà Lê Thị P, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ nơi cư trú: Ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đinh Thanh T1 trình bày:
Ngày 25/02/2022, ông Trương Mạnh T2 và bà Lê Thị P ký hợp đồng cho vay số: 2949.22.751.2688631.TD ngày 25 tháng 02 năm 2022, với Ngân hàng TMCP Q để vay số tiền 3.800.000.000 đồng với mục đích: Tái cấp và tăng hạn mức tín dụng bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi thủy sản của khách hàng. Thời hạn duy trùy hạn mức: Kể từ ngày giao kết hợp đồng đến ngày 22/02/2024.
Ngày 25/02/2022, Ngân hàng giải ngân cho ông Trương Mạnh T2 và bà Lê Thị P theo văn bản nhận nợ số LD 2205660063 ngày 25 tháng 02 năm 2022, với số tiền là 3.800.000.000 đồng; thời hạn trả là ngày 25/01/2023; lãi suất 7.2%/năm; lãi quá hạn 150% lãi trong hạn; lãi phạt chậm trả lãi là 10%/năm.
Nợ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 25/02/2022, ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P số tiền 348.335.394 đồng.
Để đảm bảo khoản vay ông T2, bà P có ký các hợp đồng thế chấp, cụ thể như sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 964498.19.751.2688631.BĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019; thế chấp: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 212, tờ bản đồ số 08, diện tích 9815.7m²; mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 202424 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Trương Văn L, bà Trần Thị N ngày 25/8/2011, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh sang tên cho ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P ngày 31/3/2016;
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019; thế chấp: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, diện tích 3094.4m²; mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 300m²; đất trồng cây lâu năm khác 2794.4m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 202425 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Trương Văn L, bà Trần Thị N ngày 25/8/2011, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh sang tên cho ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P ngày 31/3/2016.
Các hợp đồng thế chấp nêu trên được đăng ký thế chấp theo đúng quy định.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông T2, bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 27/01/2023, Ngân hàng đã thông báo chuyển nợ quá hạn của tòan bộ khoản vay theo văn bản nhận nợ nêu trên.
Tạm tính đến ngày 21/8/2024, ông T2 và bà P đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vốn là 1.700.482.570 đồng, lãi là 239.135.668 đồng, còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 2.507.249.985 đồng, trong đó tiền vốn gốc 2.099.517.430 đồng, lãi quá hạn 405.741.683 đồng và phạt chậm trả lãi 1.990.872 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T2, bà P có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi tính đến ngày 21/08/2024 cho Ngân hàng với tổng số tiền là 2.507.249.985 đồng theo hợp đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông T2, bà P thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán số nợ trên.
Trường hợp ông T2, bà P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản theo các hợp đồng thế chấp nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, nhưng trừ đi phân diện tích 25m², đất trồng cây lâu năm khác, trên đất có hai ngôi mộ thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau do ông T2, bà P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P trả số tiền 422.143.483 đồng theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 25/02/2022.
Đối với ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập đương sự để xét xử hợp lệ, song ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt không rõ lý do là tự từ bỏ đi quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình, nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả nguyên đơn tổng số tiền 2.507.249.985 đồng và xử lý tài sản thế chấp theo quy định để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q, về việc yêu cầu ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P trả số tiền 422.143.483 đông theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 25/02/2022.
- Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền tòa án giải quyết: Tranh chấp của đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại 463 Bộ luật dân sự, các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dung và Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm Tòa án quyền giải quyết, nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý và đưa vụ án ra xét xử là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nội dung tranh chấp giữa các đương sự là hợp đồng cho vay số: 2949.22.751.2688631.TD ngày 25 tháng 02 năm 2022, nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 3.800.000.000 đồng với mục đích để: Tái cấp và tăng hạn mức tín dụng bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi thủy sản của khách hàng; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 964498.19.751.2688631.BĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019 (gọi tắt: Hợp đồng thế chấp), để đảm bảo khoản nợ vay. Quá trình thực hiện các hợp đồng nêu trên nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và yêu cầu thanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi theo hợp đồng tín dụng và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn, nên các bên phát sinh tranh chấp.
[2.2] Về hiệu lực của hợp đồng: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Xét thấy, hợp đồng cho vay số: 2949.22.751.2688631.TD ngày 25 tháng 02 năm 2022; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 964498.19.751.2688631.BĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019 (gọi tắt: Hợp đồng thế chấp), để đảm bảo khoản nợ vay, được nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận ký kết theo quy định của pháp luật, cho nên hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực và các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có nghĩa vụ thực hiện.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.3.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đầy đủ cho nguyên đơn nên đã vi phạm hợp đồng. Bị đơn còn nợ nguyên đơn tính đến ngày 21 tháng 08 năm 2024 theo hợp đồng và văn bản nhận nợ số LD 2205660063 ngày 25 tháng 02 năm 2022, với tổng số tiền 2.507.249.985 đồng, trong đó tiền vốn 2.099.517.430 đồng, lãi quá hạn 405.741.683 đồng và phạt chậm trả lãi 1.990.872 đồng, nên yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền trên. Bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự từ bỏ đi quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, cho nên yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở nên được chấp nhận.
[2.3.2] Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 212, tờ bản đồ số 08, diện tích 9815.7m²; mục đích sử dụng: Đất nuôi trồng thủy sản, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 202424 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Trương Văn L, bà Trần Thị N ngày 25/8/2011, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh sang tên cho ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P ngày 31/3/2016 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 964498.19.751.2688631.BĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019;
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 07, tờ bản đồ số 08, diện tích 3094.4m²; mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 300m²; đất trồng cây lâu năm khác 2794.4m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 202425 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Trương Văn L, bà Trần Thị N ngày 25/8/2011, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh sang tên cho ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P ngày 31/3/2016 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019, trừ đi phần diện tích 25m² trên đất có hai ngôi thuộc quyền sử dụng đất nêu trên.
Xét thấy, việc thế chấp tài sản tại hợp đồng thế chấp là để đảm bảo khoản nợ vay, theo hợp đồng thế chấp có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên, khi thế chấp các bên cũng đã xác định người chủ sở hữu của tài sản. Về nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp, khi phát sinh tranh chấp được xử lý theo thỏa thuận, theo quy định pháp luật giao cho Cơ quan thi hành án phát mãi là hoàn toàn phù hợp với pháp luật cho nên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn để thu hồi nợ là có cơ sở nên được chấp nhận.
Khi Cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019, phải trừ đi phần diện tích 25m² trên đất có hai ngôi thuộc thửa đất 07, tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau do ông T2, bà P1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp.
[3] Về việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 422.143.483 đông theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 25/02/2022.
Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật dân sự nên đình chỉ xét xử đối với yêu này của nguyên đơn là phù hợp. Đương sự có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự khác.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, 92, 144, 147, 157, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 298, 299, 317, 318, 323, 327, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Buộc ông Trương Mạnh T2 và bà Lê Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2024 là 2.507.249.985 đồng, trong đó tiền vốn là 2.099.517.430 đồng, tiền lãi quá hạn 405.741.683 đồng và tiền phạt chậm trả lãi 1.990.872 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 21/8/2024, ông T2, bà P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông T2, bà P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo Bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng thương mại cổ phần Q trả cho ông T2, bà P các loại giấy tờ đã được liệt kê trong hợp đồng thế chấp khi các nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản đã được ông T2, bà P thực hiện xong.
Trong trường hợp ông T2, bà P không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nêu trên, buộc ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P giao tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 964498.19.751.2688631.BĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 959621.19.751.2688631.BĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019 cho Cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo quy định, nhưng trừ đi phần diện tích 25m² trên đất có hai ngôi mộ thuộc quyền sử dụng đất của thửa đất 07, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau do ông T2, bà P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q, về việc yêu cầu ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P trả số tiền 422.143.483 đồng theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 25/02/2022.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trương Mạnh T2, bà Lê Thị P phải chịu là 82.145.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần Q không phải chịu án phí. Ngày 01/3/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q đã dự nộp số tiền 42.280.000 đồng tại lai số 0008169 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Linh |
Bản án số 246/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 246/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu.
