|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 246/2023/HNGĐ-ST Ngày 14-8-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Tưởng -Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 296/2023/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 183/2023/TB-TA ngày 04/8/2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Tổ 17 thôn V, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số nhà ... ngõ ... đường L, KDC H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người được chị Th ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Chị Vũ Thị Ch, sinh năm 1990. Địa chỉ: KDC Tr, phường Đ, thành phố Ch, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thị xã C (nay là Thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 05/12/2014. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình anh T một thời gian ngắn rồi Thuê nhà ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu Thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T chơi bời, không vun vén chăm lo cho gia đình nên anh chị thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Chị cùng gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không có sự thay đổi. Năm 2016 anh T tiếp tục đi lao động tại Trung Quốc, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên mâu Thuẫn càng trở nên trầm trọng, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở tổ 17 thôn V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định sinh sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T theo quy định.
Về con chung; về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai của anh Đinh Văn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân như chị Th đã trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu Thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh chị không có con, chị Th không chung thủy và có quan hệ với người đàn ông khác. Nay chị Th có đơn xin ly hôn anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm yêu thương nhau nên cũng đồng ý ly hôn. Về con chung; về tài sản chung, nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại lời khai của bà Đinh Thị M(mẹ đẻ anh T) trình bày: Trong quá trình chung sống, do anh chị không chung thủy, không có sự tin tưởng nhau nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện, thực tế anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Th có đơn xin ly hôn, bà đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.
Theo biên bản xác minh tại địa phương nơi các đương sự sinh sống và đăng ký kết hôn thể hiện: Chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T kết hôn hợp pháp. Trong quá trình chung sống, địa phương nắm được vợ chồng anh chị có xảy ra mâu Thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có sự tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra tranh cãi. Nay chị Th có đơn giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Trần Thị Th, bị đơn anh Đinh Văn T vắng mặt, đề nghị giải quyết vắng mặt đồng thời giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX), các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật HN&GĐ, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức Th, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Th ly hôn anh Đinh Văn T; Về án phí: Chị Trần Thị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng: Tại nội dung Công văn số 11817/QLXNC-P5 ngày 17/5/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an thể hiện anh Đinh Văn T, sinh ngày 05/5/1988 đã sử dụng hộ chiếu B8108807 để xuất cảnh ngày 23/7/2013 qua cửa khẩu Móng Cái, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã xuống địa phương trực tiếp làm việc và xác định anh Đinh Văn T đã về Việt Nam. Anh T đã xuất cảnh sang Trung Quốc vào năm 2013, thời gian sau này do hết hạn visa nên anh về nước bằng con đường không chính ngạch nên trên hệ thống của Cục quản lý xuất nhập cảnh mới thể hiện như vậy. Mặt khác, từ đó đến nay anh T vẫn thường xuyên đi lại giữa Việt Nam và Trung Quốc để làm ăn, sinh sống. Do vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, chị Th, anh T vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
-
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Sao Đỏ, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày 05/12/2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của anh chị xảy ra sinh mâu Thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có sự tin tưởng nhau. Trên thực tế anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Bản thân anh T cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu Thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Trần Thị Th ly hôn anh Đinh Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ nuôi con: Chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T không có con chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th, anh T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
- Về án phí: Chị Trần Thị Th là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Th ly hôn anh Đinh Văn T.
- Về án phí: Chị Trần Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do chị Vũ Thị Chang đã nộp thay theo biên lai Th tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0004883 ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Minh Tân |
Bản án số 246/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 246/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Th có đơn khởi kiện ly hôn anh T
