|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 246/2021/DS-PT Ngày: 23-11-2021 V/v tranh chấp: “Quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.
Các Thẩm phán: + Ông Huỳnh Văn Ngoan.
+ Bà Lâm Ngọc Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 551/2020/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 659/2020/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1960;
- Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1952;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị G, sinh năm 1988 (theo Giấy ủy quyền ngày 24/12/2020) (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Văn H1: Ông Trần Trung T – Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Trung T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Chị Bùi Diễm C, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1949 (đã chết);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà L:- 1.1. Bà Đỗ Thị Ngọc T1, sinh năm 1970 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp H, xã H1, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- 1.2. Ông Đỗ Phi T2, sinh năm 1973 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- 1.3. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố H, Phường H, thị xã K, tỉnh Long An.
- Anh Trần Thanh P, sinh năm 1980 (có mặt); Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Cháu Trần Hoàng K, sinh năm 2007;
- Cháu Trần Hoàng Y, sinh năm 2015;
Người đại diện theo pháp luật của cháu K, cháu Y: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1980 (có mặt); Cùng địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
5. Chị Huỳnh Thị G, sinh năm 1988 (có mặt);
6. Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1993 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn – Lê Thị H, Huỳnh Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm;
- Nguyên đơn – ông Huỳnh Văn H1 và bà Lê Thị H trình bày:
Vào ngày 24/4/1986, bà Nguyễn Thị A có chuyển nhượng cho ông H1 và bà H 01 căn nhà gắn liền phần đất có chiều ngang 07m, chiều dài 28m (diện tích 196m2); hướng Đông giáp đường đi cạnh nhà ông 5 H3, hướng Tây giáp nhà ông Tư K1, hướng Nam giáp Quốc lộ 1, hướng Bắc giáp nhà dì Út T3; với số tiền là 120.000 đồng. Khi chuyển nhượng đất, bà A có ký tên vào “Tờ bán nhà” và nhận đủ tiền, giao đất cho ông H1 và bà H sử dụng đến nay, khi đó có cô N, ông T4 (K1), ông Tư C1 là người làm chứng. Vào thời điểm đó, bà Huỳnh Thị L (Tư D) gặp khó khăn nên xin tiếp tục ở nhờ trên phần đất phía sau nhà ông H1 và bà H vài năm (diện tích khoảng 40m2) nhưng đến nay vẫn không trả lại đất. Thời gian gần đây, do biết được gia đình chị C (con bà L) tự ý kê khai và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 23, tờ bản đồ số 7, diện tích 34,2m2 vào năm 2011 và đang xây nhà trên đất, ông bà có làm đơn yêu cầu ngưng xây dựng nhưng chưa được Ủy ban nhân dân xã H giải quyết. Phía gia đình ông H1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016, diện tích chỉ còn 51,9m2; khi đó ông bà có gửi đơn nhiều lần đến chính quyền địa phương nhưng không được giải quyết.
Nay ông bà yêu cầu hộ chị Bùi Diễm C di dời nhà trả lại phần đất diện tích khoảng 40m2 cho gia đình ông H1 sau khi án có hiệu lực.
- Bị đơn – chị Bùi Diễm C trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp hiện nay chị C đang sử dụng là của mẹ chị C (bà Huỳnh Thị L). Năm 1981, bà L dẫn các con về sinh sống tại đây, trên đất có cất căn nhà. Thời điểm đó gia đình bà H chưa có về đây. Năm 1986, gia đình bà H về cất căn nhà trên đất giáp ranh với đất bà L. Năm 2010, bà L được cấp quyền sử dụng đất, đến năm 2011 thì tặng cho và chị C được cấp giấy.
Việc bà H cho rằng gia đình chị C mượn đất ở nhờ là không có căn cứ vì gia đình bà H ở sau gia đình chị C. Chị C biết nhà đất của bà H là mua của bà A, khi lập thủ tục cấp giấy cho bà L và chị C thì ông H1 cũng có ký giáp ranh. Do đó, chị C không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Huỳnh Thị G và chị Huỳnh Thị B có ý kiến trình bày như lời trình bày của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Đỗ Thị Ngọc T1, Đỗ Phi T2, Nguyễn Văn H2 có ý kiến trình bày như lời trình bày của bị đơn.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ các điều 26, 35 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 100, 170 và Điều 203 Luật Đất đai; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn H1 và bà Lê Thị H ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D1 về việc yêu cầu chị Bùi Diễm C phải giao trả lại diện tích 34,2m2, thửa số 23, tờ bản đồ số 7, tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang do chị C đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/7/2011.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
* Ngày 29/9/2020, nguyên đơn ông Huỳnh Văn H1 và bà Lê Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết: Buộc hộ chị Bùi Diễm C phải di dời nhà đi nơi khác trả lại cho ông bà phần đất ở nhờ diện tích 34,2m2, thửa số 23, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ông bà tự nguyện trả giá trị căn nhà theo định giá thực tế của Hội đồng định giá cho phía bị đơn. Ông bà được đăng ký kê khai đối với phần diện tích đất tranh chấp nêu trên theo quy định sau khi được giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Quyền sử dụng đất”; thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về việc vắng mặt đương sự: Chị Đỗ Thị Ngọc T1, anh Đỗ Phi T2, anh Nguyễn Văn H2, chị Huỳnh Thị B có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[3]. Về nội dung kháng cáo, xét thấy:
Ông H1 và bà H kháng cáo cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong diện tích 196m2 (ngang 07m, dài 28m) mà các nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị A vào năm 1986. Chứng cứ chứng minh là “Tờ bán nhà” đề ngày 24/4/1986, tuy nhiên “Tờ bán nhà” này không thể hiện vị trí thửa đất cũng như tứ cận phần đất mà ông H1, bà H đã nhận chuyển nhượng từ bà A có bao gồm 34,2m2 đất bà Huỳnh Thị L (mẹ của chị Bùi Diễm C) đang sử dụng hay không và cũng không có căn cứ nào xác định diện tích đất bà H nhận chuyển nhượng từ bà A là diện tích đất đang tranh chấp.
Nguyên đơn cho rằng trước đây bà L xin nguyên đơn cho ở nhờ trên đất nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Bà L chết, con của bà L là chị Bùi Diễm C không thừa nhận lời trình bày này của nguyên đơn, nên không có căn cứ xác định 34,2m2 đất tranh chấp là của nguyên đơn cho bị đơn ở nhờ.
Theo Biên bản thẩm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã H do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thể hiện: Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 7, diện tích 34,2m2 do bà L sử dụng từ năm 1976; thửa số 24, tờ bản đồ số 7, diện tích 51,9m2 do ông Huỳnh Văn H1 nhận chuyển nhượng vào năm 1986. Điều này cho thấy bà L sử dụng thửa số 23 trước khi ông H1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà A, cho nên việc bà H, ông H1 cho rằng ông bà cho gia đình bà Huỳnh Thị L ở nhờ là hoàn toàn không có căn cứ.
Từ những nhận định như đã nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các điều 100, 170 và Điều 203 Luật Đất đai; Điều 166 Bộ luật Dân sự; xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bị đơn phải trả 34,2m2 đất thuộc thửa 23, tờ bản đồ số 7, tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ phù hợp pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không bổ sung được chứng cứ nào mới, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 100, 170 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H và ông Huỳnh Văn H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 166/2020/DS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn H1 và bà Lê Thị H về việc yêu cầu chị Bùi Diễm C phải giao trả phần đất có diện tích 34,2m2 thuộc thửa số 23, tờ bản đồ số 7, tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang do chị Bùi Diễm C đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/7/2011 (có sơ đồ vị trí đất kèm theo).
2/- Về án phí: Ông Huỳnh Văn H1 và bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 300.000 đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 06856 ngày 17/5/2017 và biên lai thu số 0003983 ngày 29/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí.
3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện C; - CCTHADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Thu Thủy |
Bản án số 246/2021/DS-PT ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về tranh chấp “quyền sử dụng đất”
- Số bản án: 246/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Quyền sử dụng đất”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Huỳnh Văn H và Lê Thị bà H1 yêu cầu hộ chị Bùi Diễm C di dời nhà trả lại phần đất diện tích khoảng 40m2 cho gia đình ông H sau khi án có hiệu lực
