|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/HS-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Điệu;
Ông Nguyễn Trần Trường;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác ở điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án thành phố T, Hún Văn T ở điểm cầu tại trại tạm giam Công an tỉnh B, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 245/2024/TLST-HS ngày 29/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024 đối với bị cáo:
Hún Văn T, sinh năm 1991;
HKTT: Xóm B, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hún Văn X, (đã chết) và con bà Lang Thị T1, sinh năm 1966; có vợ là Mạc Thị D, sinh năm 1994 và có 01 con, sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đình T2 – Thẩm tra viên, cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 25/5/2024, T đi bộ đến gầm cầu chui khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người nam thanh niên không quen biết 100.000 đồng tiền ma túy, được 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh bịt kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Sau đó, T cầm đoạn ống hút nhựa chứa ma túy trên ở lòng bàn tay phải và đi tìm nơi vắng người sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đi đến khu phố P, phường P thì bị lực lượng Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Tại Kết luận giám định số 1261/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh bịt kín hai đầu gửi giám định có khối lượng là 0.1265 gam là ma túy Heroine”
Với nội dung trên, tại Bản Cáo trạng số 159/CT-VKS-TS ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố Hún Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra và truy tố vụ án, bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội, không bị bức cung, nhục hình buộc để khai nhận hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về hành vi hay
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra và truy tố vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm của Cáo trạng đã truy tố bị cáo Hún Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hún Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hún Văn T từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 25/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo không có tài sản, không có công ăn việc làm ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 25/5/2024, tại khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra Công
an phường P bắt quả tang Hún Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1265 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe, nhân cách con người, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và ý thức được tác hại của ma túy, song với ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn lao vào con đường sử dụng ma túy. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên cần phải có một hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Tại phiên tòa, bị cáo trình bày bị cáo không có việc làm ổn định, có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản. Vì vậy cần xem xét miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về vật chứng: 01 phong bì thư được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, có dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, bên trong phong bì thư có vỏ đựng mẫu vật và 0,0312 gam mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Quá trình điều tra T khai nhận ngày 24/5/2024 có hành vi mua ma tuý của một người không quen biết sau đó đã sử dụng hết, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” là phù hợp pháp luật.
[9] Liên quan trong vụ án này có 01 người nam thanh niên không quen biết đã bán ma túy cho T ngày 25/5/2024 và người đàn ông không quen biết bán ma túy cho T ngày 24/5/2024. Do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Hún Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Hún Văn T 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/5/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, tiếp tục tạm giam bị cáo Hún Văn T 45 ngày kể từ ngày 27/8/2024 để đảm bảo thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Hún Văn T.
4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Hún Văn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Sỹ Khả |
Bản án số 245/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 245/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTMT su dụng cho bản thân
