Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HS-ST

Ngày: 27-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Triều

Bà Thi Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hoài Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 309/2024/HSST ngày 22/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2306/2024/QÐST-HS ngày 04/5/2024 đối với bị cáo:

Đặng Tấn T; sinh năm 1995, tại: tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: thôn K, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: căn hộ A chung cư M, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và căn hộ I Block A, chung cư T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không: quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn S, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/4/2023. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Kim A - Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ 45 phút ngày 17/4/2023, Công an phường T, Quận A, kiểm tra hành chính căn hộ 11.20 chung cư M, phường T, Quận A của Đặng Tấn T. Lúc này, có T và Nguyễn Minh T1 đang ở trong căn hộ. Thu giữ ma túy của T gồm 1,4750 gam MDMA và 1,1780 gam Ketamine, T cất giấu trong phòng ngủ của T để bán cho người khác; thu giữ 0,5403 gam Ketamine của T1, cất giấu trong người để sử dụng (trước đó khoảng 05 ngày, T1 thuê 01 phòng trong căn hộ của T để ở, giá 2.600.000 đồng/1tháng, căn hộ có 03 phòng ngủ, lúc bị phát hiện T1 đang ở trong phòng ngủ của T1), nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, cùng vật chứng là ma túy thu giữ của T và T1 (BL 23-24).

Cùng ngày 17/4/2023, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Tấn T tại căn hộ S Bock A, chung cư T, phường T, Quận A, thu giữ ma túy của T gồm 39,1448 gam loại MDMA và 19,8608 gam Ketamine, T cất giấu trong phòng ngủ của T để bán cho người khác. Lúc này, có Phan Thị Chúc V (trước đó gần 02 tháng, V thuê 01 phòng trong căn hộ của T để ở, giá 2.200.000 đồng/1tháng, căn hộ có 03 phòng ngủ, lúc khám xét căn hộ, V đang ở trong phòng ngủ của V) (BL 40).

Vật chứng là ma túy thu giữ của Đặng Tấn T và Nguyễn Minh T1 đã được giám định tại Kết luận giám định số 3910/KLGĐ-H ngày 26/4/2023 của Phòng K Công an Thành phố H (BL79).

Kết quả điều tra xác định đầu năm 2023, Đặng Tấn T biết người tên T (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội Facebook bán ma túy, Đặng Tấn T đã 02 lần mua ma túy của T, để bán lại kiếm lời. Cụ thể là:

Lần thứ nhất: Đầu năm 2023, Đặng Tấn T sử dụng số điện thoại 0909.022.xxx gọi cho T (không nhớ số điện thoại của T) đặt mua ma túy, loại Ketamine (không rõ số lượng), giá 29.100.000 đồng, sau đó có người đàn ông (không rõ lai lịch) giao ma túy cho T tại khu vực trước chung cư T, phường T, Q12 . T trả tiền cho người đàn ông, rồi đem ma túy lên phòng ngủ của T trong căn hộ 901 Block A, chung cư T cất giấu, chia thành nhiều gói, để bán cho người khác, giá từ 900.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 gói 0,6 gam và 2.500.000 đồng/01 gói 2,5 gam.

Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng 01 tuần, Đặng Tấn T sử dụng số điện thoại 0909.022.xxx gọi cho T đặt ma túy, dạng viên nén loại MDMA (không rõ số lượng), giá 13.000.000 đồng, sau đó có người đàn ông (không rõ lai lịch) giao ma túy cho T tại khu vực trước chung cư T, phường T, Quận A . T trả tiền cho người đàn ông, rồi đem ma túy lên phòng ngủ của T trong căn hộ 901 Block A1, chung cư T cất giấu, để bán lại cho người khác, giá 250.000 đồng/01 viên MDMA. Trong đó, ngày 19/01/2023, bán 03 viên MDMA cho Phan Thị Chúc V, giá 750.000 đồng; ngày 11/4/2023, bán cho Nguyễn Minh T1 2,5 gam ma túy, loại Ketamine và 04 viên MDMA, giá 3.400.000 đồng (thời điểm này V và T1 chưa thuê nhà của T và đã sử dụng hết ma túy mua của T). Số ma túy còn lại chưa bán hết, T cất giấu tại căn hộ S Block A, chung cư T, phường T, Quận A và căn hộ A chung cư M, phường T, Quận A, thì bị phát hiện, thu giữ như trên. T đã thu lợi 500.000 đồng.

Ngày 15/4/2023, Nguyễn Minh T1 mua ma túy, loại Ketamine (không rõ khối lượng), giá 1.000.000 đồng của người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu vực cầu T, Quận A. Sau khi sử dụng, số ma túy còn lại là 0,5403 gam Ketamine, T1 cất giấu trong người để tiếp tục sử dụng, thì bị phát hiện, thu giữ như trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đặng Tấn T khai nhận hành vi như đã nêu trên, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác ( BL118-141).

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 1; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 2; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 3; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 4; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 5; 01 (một) gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 6; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 7; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 8. Tất cả 08 gói được niêm phong sau giám định có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1, bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.

- 50.000 đồng đã nộp vào tài khoản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tại Ngân hàng TMCP C1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 áo khoác màu đen; 01 hộp giấy; 01 chùm chìa khóa; 01 cân tiểu ly; 01 hộp giấy có chữ KINHKONG GALSS; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa, là dụng cụ T sử dụng ma túy.

- Xe mô tô biển số 59P3-068.21 thu giữ của T. Kết quả điều tra xác định của Đặng Tấn T mua vào năm 2020, do không có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, T nhờ ông Nguyễn Hồng Q đứng tên đăng ký xe cho T sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Tòa xem xét, xử lý.

Đối với người tên T bán ma túy cho Đặng Tấn T, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xem xét, xử lý.

Đối với Nguyễn Minh T1, ngày 15/4/2023 có hành vi tàng trữ 0,5403 gam ma túy, loại Ketamine, để sử dụng, do khối lượng chất ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Minh T1 và Phan Thị Chúc V có hành vi mua ma túy của Đặng Tấn T để sử dụng, do không thu giữ được ma túy, nên không có đủ căn cứ để xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, kết quả điều tra không có căn cứ để xác định T1 và V liên quan đến hành vi phạm tội của T, không biết T cất giấu ma túy trong phòng ngủ của T tại 2 căn hộ trên để bán, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.

Đối với các số điện thoại liên quan, Cơ quan cảnh sát điều tra đã yêu cầu các công ty viễn thông cung cấp thông tin, dữ liệu để xác minh, làm rõ nhưng chưa có kết quả.

Tại bản cáo trạng số 223/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Đặng Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi tóm tắt nội dung vụ án và trình bày lời luận tội, đánh giá về tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết định khung, tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã khẳng định bản Cáo trạng truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật.

Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Tấn T từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định và xử lý vật chứng là đồ vật, tài sản theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Tấn T trình bày: thống nhất với nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt và điều luật Viện kiểm sát truy tố để xét xử đối với bị cáo nên không tranh luận. Chỉ nêu ra các tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, trả lại cho bị cáo những tài sản cá nhân không liên quan đến vụ án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Tấn T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Tấn T tại phiên tòa, đối chiếu lời khai nhận bị cáo Đặng Tấn T tại Cơ quan điều tra là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đặng Tấn T muốn có tiền tiêu xài nên liên hệ mua ma túy 02 lần của đối tượng tên T (chưa rõ lai lịch) với tổng số tiền 42.100.000 đồng để bán lại kiếm lời. Lúc 17 giờ 45 phút ngày 17/4/2023, bắt quả tang tại căn hộ A chung cư M, phường T, Q12 và khám xét khẩn cấp chỗ ở tại căn hộ S Bock A, chung cư T, phường T, Q12, của Đặng Tấn T thu giữ khối lượng ma túy là 40,6198 gam MDMA và 21,0388 gam Ketamine, bị cáo T cất giấu để bán lại kiếm lời.

Ngoài ra có đủ căn cứ chứng minh được bị cáo có hành vi bán ma túy đối với 03 viên MDMA cho Phan Thị Chúc V vào ngày 19/01/2023 và 2,5 gam Ketamine, 04 viên MDMA cho Nguyễn Minh T1 vào ngày 11/4/2023.

Như vậy, tổng khối lượng các chất ma túy mà chứng minh được bị cáo có hành vi mua bán là 40,6198 gam MDMA và 23,5388 gam Ketamine.

Hành vi trên của bị cáo Đặng Tấn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì hám lợi, cần tiền mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả, có thái độ xem thường pháp luật, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi mua bán ma túy 2 lần, 1 lần đầu năm 2023 và lần thứ 2 sau đó 1 tuần, nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với bị cáo Đặng Tấn T về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo Đặng Tấn T là có căn cứ.

Lập luận nêu trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm, ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt đề nghị dành cho bị cáo cũng như xử lý vật chứng.

[4] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 1; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 2; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 3; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 4; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 5; 01 (một) gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 6; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 7; 01 gói giấy ghi vụ số 3910 (874/23) gói 8. Tất cả 08 gói được niêm phong sau giám định có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định, là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Thu giữ của bị cáo:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

+ Số tiền 50.000 là tiền bị cáo phạm tội mà có, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

+ 01 áo khoác màu đen; 01 hộp giấy; 01 chùm chìa khóa; 01 cân tiểu ly; 01 hộp giấy có chữ KINHKONG GALSS; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa, là những vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy;

+ Xe mô tô biển số 59P3-068.21, qua xác minh là tài sản của bị cáo, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Đặng Tấn T 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

[2] Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 1 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 2 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 3 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 4 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 4 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 5 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 6 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 7 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 gói giấy có ghi vụ số 3910 (874/23) Q12 gói 8 được niêm phong có chữ ký Giám định viên Nguyễn Mạnh C và Điều tra viên Lê Xuân L1 bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 áo khoác màu đen; 01 hộp giấy; 01 chùm chìa khóa; 01 cân tiểu ly; 01 hộp giấy có chữ KINHKONG GALSS; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei: 359508623807970 (...7970, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) và số tiền 50.000 đồng;

- Trả lại cho bị cáo Đặng Tấn T: 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu Honda, số loại AirBlade, dung tích xi lanh: 124.9, biển số 59P3-068.21, SK: RLHJF6332LZ492798, SM:JF94E0098235 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/291 ngày 22/4/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền ngày 02/8/2023 vào tài khoản số 39490905977500000 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).

[3] Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

[4] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tối cao; (1)

- TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)

- VKSND TP. HCM; (3)

- Cục Thi hành án dân sự; (1)

- Sở tư pháp; (1)

- Trại giam; (2)

- Bị cáo; (1)

- Thi hành án hình sự; (2)

- Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)

- UBND nơi bị cáo cư trú; (2)

- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 245/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đặng Tấn T 16 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger