Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Nguyễn Hoàng Tuấn;
  • Ông Lê Trung Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Kim T, sinh năm 1984; Trú tại tổ I, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1985; Trú tại tổ E, khóm T, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Lê Kim T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T1 tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2016. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng dần về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, thường xuyên cải vả, ông T1 không chăm lo cho vợ con, thường hay đánh đập bà, bà đã khuyên ông T1 nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T1.

- Về con chung: Bà T và ông T1 chung sống có 02 con chung tên Phạm Đức D, sinh ngày 17/11/2011, Phạm Đức H, sinh ngày 28/4/2022, hiện 02 cong cung đang ở với bà T. Ly hôn bà T yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Phạm Văn T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1.

Tại phiên toà:

T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với ông T1. Về con chung, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Phạm Đức H, sinh ngày 28/4/2022; bà T đồng ý giao cháu Phạm Đức D, sinh ngày 17/11/2011 cho ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi cháu H và bà T cũng không cấp dưỡng nuôi cháu D. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông T1 đồng ý ly hôn với bà T. Con chung đồng ý giao cháu H cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng; ông T1 yêu cầu nuôi cháu D do cháu D đang ở với ông T1. Ông T1 không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi cháu D và ông T1 cũng không cấp dưỡng nuôi cháu H. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Lời khai của cháu Phạm Đức D tại phiên toà: Cháu xin được ở với ba (ông T1) vì hiện nay cháu đang ở với ba ổn định.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn T1 thường trú tại thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Bà T khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà T và ông T1 chung sống với nhau năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang vào năm 2016 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường hay cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cải vả, ông T1 không quan tâm chăm sóc cho vợ con, thường hay đánh đập vợ con, cuộc sống không còn hạnh phúc đã ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà T đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông T1 đều vắng mặt. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T và ông T1 chung sống có 02 con chung tên Phạm Đức D, sinh ngày 17/11/2011, Phạm Đức H, sinh ngày 28/4/2022. Tại phiên toà bà T và ông T1 thống nhất giao cháu D cho ông T1 nuôi dưỡng, giao cháu H cho bà T nuôi dưỡng. Xét, cháu D đang ở ổn định với ông T1, ông T1 yêu cầu tiếp tục nuôi cháu D và cháu D cũng có nguyện vọng muốn ở với ông T1 nên giao cháu D cho ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu H dưới 36 tháng tuổi hiện do bà T chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà T có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu H nên giao cháu H cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung bà T và ông T1 đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 80; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim T.

  • - Về hôn nhân: Bà Lê Kim T được ly hôn với ông Phạm Văn T1.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Phạm Đức D, sinh ngày 17/11/2011 cho ông Phạm Văn T1 được trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung Phạm Đức H, sinh ngày 28/4/2022 cho bà Lê Kim T được trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T và ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

T, ông T1 cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí:

Lê Kim T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005237 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAT An Giang;
  • - THA huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - UBND TT Vĩnh Thạnh Trung;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HNGĐ - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 245/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung (Thuỳ - Thái)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger