Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HS-ST

Ngày 16/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Đắc Toàn.
  2. Ông Phạm Ngọc Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 258/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Ngọc T; sinh ngày 06/02/1993 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành S và bà Nguyễn Thị Bích N; có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại:

  • + Chị Nguyễn Thị Kim T1; sinh năm1994; nơi cư trú: Số nhà B, đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Bích T2; sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Đào Ngọc Q; sinh năm 1994; nơi cư trú: Số nhà B, đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  • + Anh Lê Văn T3; sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ B, khu phố G, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị Kim C; sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Võ Ngọc T đã lén lút thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Q, cụ thể như sau:

Vụ 1: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 22/7/2024, Võ Ngọc T đi bộ đến đoạn Quảng trường đường X, phường T thì phát hiện 01 xe mô-tô biển kiểm soát 77F5-0041, nhãn hiệu HADOSIVA, số máy: CT100E-1824376, số khung: 100DYC-824915, màu sơn nâu của chị Nguyễn Thị Bích T2 dựng trên vỉa hè, chìa khoá để trên lốc máy, không có người trông coi, nên T lén lút đến lấy xe này rồi điều khiển xe chạy về nhà tại khu phố P, thị trấn C, huyện P. Ngày 25/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô biển số 77F5-0041; nhãn hiệu HADOSIVA; số máy: CT100E-1824376; số khung: 100DYC-824915; màu sơn nâu, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.000.000 đồng.

Vụ 2: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/7/2024, Võ Ngọc T điều khiển xe mô-tô biển số 77F5-0041 (trộm ở vụ 1) đến gửi tại bãi giữ xe của Trung tâm y tế thành phố Q trên đường T để đi xin việc ở công trình đối diện. Vì không xin được việc nên T đi bộ đến Bệnh viện M thì phát hiện xe mô-tô nhãn hiệu Vision, màu nâu đỏ, biển kiểm soát 77C1-722.09 của chị Nguyễn Thị Kim T1 dựng sát tường, kế bên chốt bảo vệ, chìa khoá còn cắm trên ổ điện, không có ai trông coi, nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. T lén lút đến lấy xe rồi điều khiển xe chạy ra khỏi bãi xe của Bệnh viện M. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T dùng tài khoản Facebook tên “Đam Mê Xe” đăng bài bán xe mô-tô biển số 77C1-722.09 lên trang “mua bán xe máy cũ” nhưng không thoả thuận được giá nên T xoá bài. Sau đó, T tiếp tục tìm nơi tiêu thụ; khi đến phường Đ, thị xã A thì có một thanh niên (không rõ lai lịch) liên hệ mua xe mô-tô 77C1-722.09 với giá 17.000.000 đồng. T đến điểm hẹn giao xe chờ thì bị Công an phường H truy tìm, phát hiện đưa về trụ sở làm việc. Ngày 16/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô biển số 77C1-722.09; nhãn hiệu HONDA; số máy: JF86E0289302; số khung: RLHJF5825KY029858; số loại VISION, màu sơn đỏ nâu đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 19.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Võ Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã thu giữ và xử lý các vật chứng:

  • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim T1: 01 xe mô-tô biển số 77C1-722.09; nhãn hiệu HONDA; số máy: JF86E0289302; số khung: RLHJF5825KY029858; số loại VISION, màu sơn đỏ nâu đen, đã qua sử dụng.
  • - Chuyển đến Công an thành phố Q: 01 xe mô-tô biển số 77F5-0041; nhãn hiệu HADOSIVA; số máy: CT100E-1824376; số khung: 100DYC-824915; màu sơn nâu, đã qua sử dụng, để xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Trả lại cho Võ Ngọc T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, số imei 01: 261880070953453/25, số imei 02: 861880070953446/25; có gắn sim 01: 0707207158, sim 02: 0376130852, đã qua sử dụng.

Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 259/CT-VKSQN ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Võ Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Tòa xử phạt nhẹ cho bị cáo.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Võ Ngọc T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".

Bị cáo Võ Ngọc T thống nhất như luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái và xin Toà khoan hồng xử phạt bị cáo mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên cơ bản bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.

[2] Bị cáo Võ Ngọc T thực hiện hành vi bị truy tố khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, trong tình trạng không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/7/2024, khi đi bộ đến Bệnh viện M, bị cáo phát hiện 01 xe mô-tô nhãn hiệu Honda Vision, màu nâu đỏ, biển kiểm soát 77C1-722.09 của chị Nguyễn Thị Kim T1 dựng sát tường, kế bên chốt bảo vệ, chìa khoá còn cắm trên ổ điện, không có ai trông coi, nên đã lén lút đến lấy xe rồi điều khiển xe chạy ra khỏi bãi xe của Bệnh viện M. Sau đó, bị cáo tìm người để bán xe thì bị phát hiện. Qua định giá, xe mô-tô biển kiểm soát 77C1-722.09 có giá trị là 19.000.000 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác của bị cáo nêu trên đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về tội danh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Trước ngày thực hiện tội phạm, bị cáo cũng đã lấy trộm 01 xe mô-tô biển kiểm soát 77F5-0041 của chị Nguyễn Thị Bích T2, nhưng do giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này. Lần phạm tội này chứng tỏ bị cáo đã nảy sinh ý định phạm tội từ trước, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên mới thực hiện việc trộm cắp diễn ra liên tục, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong quá trình điều tra, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; cho nên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định nêu trên.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Võ Ngọc T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Võ Ngọc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn;
  • - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Trần Duyên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 245/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc T phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger