TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/12/2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đăng Thiện
- Ông Nguyễn Văn Sâm
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Y, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đào Thị Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn C qua việc tìm hiểu, lấy nhau là do hai bên tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/02/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 8 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình. Chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm để vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng không được, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 06/2024 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân cho đến nay, không còn quan tâm tình cảm với nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm, nên đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn.
Về con chung: Chị Đào Thị Y xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Văn Gia B, sinh ngày 22/02/2014 và cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018. Quan điểm của chị Y là mỗi người sẽ trực tiếp nuôi dưỡng một con chung; hai bên không ai phải cấp dưỡng. Chị Y có ý kiến là để thuận tiện cho cả hai bên vợ chồng trong việc chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con gái là cháu Lê Huyền T; đề nghị giao con trai là cháu Lê Văn Gia B cho anh C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản và công nợ: Chị Đào Thị Y xác định để vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 08/10/2024, bị đơn là anh Lê Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/02/2013 tại UBND X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng cũng có lúc va chạm nhưng không đáng kể. Đến tháng 06/2024 thì vợ chồng có xảy ra cãi nhau và chị Y đã tự ý bỏ nhà đi. Nay chị Y yêu cầu ly hôn, quan điểm của anh C là xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Lê Văn C xác định vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn Gia B, sinh ngày 22/02/2014 và cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018, hiện tại cả hai con chung đều đang ở với anh. Quan điểm anh C là nếu chị Y vẫn yêu cầu ly hôn thì anh có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung; anh C yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ/tháng, cho cả hai con chung.
Về tài sản và công nợ: Anh Lê Văn C xác đinh là vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh lập ngày 29/10/2024, đại diện UBND xã X cho biết: Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C có quan hệ là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T vào ngày 26/02/2013. Qúa trình chung sống vợ chồng chị Y và anh C có 02 con chung là cháu Lê Văn Gia B, sinh ngày 22/02/2014 và cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018. Hiện nay chị Đào Thị Y đã về nhà bố mẹ đẻ cũng ở thôn D, xã X sinh sống. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm bắt được vì gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:
I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị Y đối với anh Lê Văn C.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Huyền T cho chị Y được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Lê Văn Gia B cho anh C được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Y và anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Án phí dân sự: Chị Y phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Đào Thị Y khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Lê Văn C, hiện đang cư trú tại: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là anh Lê Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn là chị Đào Thị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 26/02/2013, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh C là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, tình cảm giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình, nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ tháng 6 năm 2024 vợ chồng đã sống ly thân. Qúa trình giải quyết vụ án, chị Y một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn; tại bản tự khai ngày 08/10/2024 anh C có ý kiến thể hiện quan điểm không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tiếp theo, anh C không có mặt làm việc, không tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh C không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Y, xử cho chị Đào Thị Y được ly hôn với anh Lê Văn C.
[3] Về con chung: Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Văn Gia B, sinh ngày 22/02/2014 và cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018.
[3.1] Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị Y và anh C, thấy rằng: Con chung là cháu Lê Văn Gia B đã trên 7 tuổi và có văn bản trình bày ý kiến thể hiện nguyện vọng muốn ở với bố (anh C), cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018 đang còn nhỏ (dưới 7 tuổi) nên không ghi nhận ý kiến. Tuy nhiên, xét chị Y và anh C đều có đủ các điều kiện để được trực tiếp nuôi con; hơn nữa vợ chồng có 02 con chung đang cần phải có người trực tiếp nuôi dưỡng, việc giao cả 02 con cho một người trực tiếp nuôi sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, để đảm bảo quyền được nuôi con của hai bên vợ chồng sau ly hôn, cần thiết giao cho cả hai bên vợ chồng mỗi người đều được trực tiếp nuôi dưỡng một con chung. Xét con chung là cháu Huyền T là con gái, nên việc giao cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có nhiều thuận tiện hơn trong việc chăm sóc; cháu Gia B giao cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, như vậy là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con.
[3.2] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Y và anh C mỗi người đều đã trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung, do đó hai bên không ai phải cấp dưỡng.
[4] Về tài sản và công nợ: Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Đào Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Về hôn nhân:
Xử cho chị Đào Thị Y được ly hôn với anh Lê Văn C.Về con chung:
Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C có 02 (hai) con chung là cháu Lê Văn Gia B, sinh ngày 22/02/2014 và cháu Lê Huyền T, sinh ngày 26/8/2018.Giao con chung là cháu Lê Huyền T cho chị Đào Thị Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung là cháu Lê Văn Gia B cho anh Lê Văn C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Đào Thị Y và anh Lê Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản và công nợ:
Không xem xét.Về án phí:
Chị Đào Thị Y phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Y đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005199 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, chị Đào Thị Y đã nộp đủ tiền án phí.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Minh Tiến |
Bản án số 245/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 245/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
