Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

***___

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HSST

Ngày: 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Đăng

Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
  2. Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký TAND huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 226/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức K, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2006, tại Vĩnh Phúc (Thời điểm phạm tội 17 tuổi 10 tháng 08 ngày). Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện B, Vĩnh Phúc. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Học sinh. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H. (có mặt)
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2006, tại Vĩnh Phúc. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện B, Vĩnh Phúc. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và bà Phan Thị P, sinh năm 1975. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức K: Ông Vũ Văn D – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước – Chi nhánh S thành phố Hà Nội. (có mặt)

Người đại diện diện hợp pháp cho bị cáo K: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện B, Vĩnh Phúc. (đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11h10' ngày 01/8/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S đang trên đường làm nhiệm vụ tại địa bàn thôn N, xã T, huyện S, Hà Nội phát hiện xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 29K1 - 937.25 do Nguyễn Đức K đang điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tại đây, K đã tự giao nộp 02 lọ dung dịch CBD màu vàng nhạt chứa chất ma túy (ký hiệu A), K khai đang trên đường đi bán cho đối tượng nghiện để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng giữa tháng 7/2024, Nguyễn Đức K và Nguyễn Văn N bàn nhau góp tiền rồi mua được của một đối tượng (không rõ tên tuổi và địa chỉ) trên mạng xã hội facebook 1.000.000 đồng chất ma túy CBD. Sau khi mua được ma túy, K và N chia nhỏ thành 04 lọ nhằm mục đích để bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời.

Khoảng 07h00' ngày 01/8/2024, trong lúc Nguyễn Đức K đang ở nhà thì nhận được một cuộc gọi từ tài khoản Zalo có tên “Hú òa” liên lạc với K đặt vấn đề hỏi mua 15ml ma túy CBD, K đồng ý và báo giá 700.000 đồng rồi hẹn địa điểm giao dịch mua bán tại khu vực thôn N, xã T, huyện S, Hà Nội. Sau đó, K thông báo cho N biết có khách hỏi mua 15ml ma túy CBD. K lấy 02 lọ dung dịch ma túy CBD rồi đi đến khu đô thị Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gặp N. Tại đây, N đưa cho K 01 xe môtô hiệu Honda BKS 29K1 - 937.25 để K đi bán ma túy. Khi K điều khiển xe đem theo ma túy đi đến điểm hẹn thì bị tổ công tác Công an huyện S kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Cơ quan CSĐT - Công an huyện S đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của K và N. Kết quả: Nguyễn Văn N và Nguyễn Đức K âm tính với ma túy.

Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện S, các bị can Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 phong bì niêm phong chứa ma túy có chữ ký của Nguyễn Đức K; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của K; 01 điện thoại di động Iphone màu đen và 01 điện thoại di động Iphone màu xám thu giữ của N.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức K tại thôn A, xã S, huyện B, Vĩnh Phúc, Cơ quan điều tra thu giữ: 02 lọ dung dịch ma túy CBD (Ký hiệu B).

Tại kết luận giám định số 5726/KL - KTHS ngày 10/8/2024 của V1 - Bộ C xác định:

  • Chất lỏng màu vàng nhạt bên trong 02 lọ nhựa màu trắng (kí hiệu A) đều là ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA, tổng thể tích 12ml;
  • Chất lỏng màu vàng nhạt bên trong 02 lọ nhựa màu trắng (kí hiệu B) đều có ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA, tổng thể tích 09ml;

Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy mẫu ký hiệu A 04ml và lấy mẫu ký hiệu B 04ml để làm mẫu giám định, số ma túy còn lại hoàn trả cho cơ quan điều tra để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe môtô Honda BKS 29K1 - 937.25. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Dương Thị Kiều Đ, sinh năm 1961, trú tại số B ngõ G, Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội. Chiếc xe môtô trên chị Đ bị mất trộm vào khoảng tháng 7/2023 tại xã C, huyện T, Hà Nội. Tuy nhiên, Nguyên khai: Chiếc xe môtô trên Nguyên mua trên mạng với giá 16.000.000 đồng vào tháng 7/2023, nên ngày 21/10/2024, Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu liên quan đối với vật chứng là chiếc xe mô tô trên để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với đối tượng có tài khoản Zalo “Hú òa” đã gọi điện hỏi mua ma túy của K, do không xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N và K thông qua mạng xã hội facebook, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu điều luận tội đối với bị cáo đề nghị xử phạt Nguyễn Đức K từ 20 đến 24 tháng tù; xử phạt Nguyễn Văn N từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức K; 01 điện thoại di động Iphone màu đen thu giữ của Nguyễn Văn N; trả lại Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động Iphone màu xám.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức K phát biểu quan điểm: Khi phạm tội bị cáo K chưa đủ tuổi thành niên nên nhân thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị áp dụng quy định tại chương 12 đối với người chưa thành niên phạm tội; bị cáo thành khẩn khai báo, có ông nội là Nguyễn Văn N1 là người có công, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận gì khác. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo K, bị cáo N đều xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng tháng 7/2024, Nguyễn Đức K và Nguyễn Văn N bàn nhau góp tiền mua ma túy về bán kiếm lời. Sau đó, N lên mạng xã hội facebook mua của một đối tượng không rõ tên tuổi địa chỉ, 1.000.000₫ chất ma túy CBD. Sau khi mua được ma túy K và N chia nhỏ thành 04 lọ để bán lại kiếm lời. Ngày 01/8/2024, K nhận được cuộc gọi Z hỏi mua 15ml ma túy CBD với giá 700.000đ và hẹn địa điểm giao dịch là khu vực thôn N, xã T, huyện S, Hà Nội. Sau đó K báo cho N biết có người hỏi mua ma túy và N đã đưa cho K chiếc xe mô tô Honda BKS 29K1 – 937.25 để K đi bán ma túy và bị phát hiện bắt giữ tại địa bàn thôn N, xã T, huyện S, Hà Nội. Số ma túy thu giữ của Nguyễn Đức K khi phát hiện bắt quả tang và số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Đức K được Cơ quan chuyên môn Phòng K1 - Công an thành phố H giám định kết luận: Chất lỏng màu vàng nhạt bên trong 02 lọ nhựa màu trắng (kí hiệu A) đều là ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA, tổng thể tích 12ml; Chất lỏng màu vàng nhạt bên trong 02 lọ nhựa màu trắng (kí hiệu B) đều có ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA, tổng thể tích 09ml;

Hành vi nêu trên của các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạm vào khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, cụ thể điều luật quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh trật tự và an toàn trong xã hội. Xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay tệ nạn mua bán trái phép các chất ma túy diễn ra rất phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu trong xã hội, từ tệ nạn về ma túy là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì hám lợi vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lời bất chính, hành vi của các bị cáo làm lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy trong xã hội. Vì vậy cần xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này đối với Nguyễn Đức K là người có vai trò tích cực hơn bị cáo Nguyễn Văn N, là người cùng N góp tiền mua ma túy về để bán lại kiếm lời, sau khi nhận được điện thoại Zalo của đối tượng có tên “Hú òa” hỏi mua ma túy bị cáo là người trực tiếp mang ma túy sang địa phận thôn N, xã T, huyện S để bán ma túy và bị phát hiện bắt giữ; đối với Nguyễn Văn N là đồng phạm tích cực cùng K góp tiền mua ma túy về để bán kiếm lời, trực tiếp là người lên mạng facebook để mua ma túy của một đối tượng không quen biết để cùng K bán lại cho các đối tượng nghiện hút kiếm lời, sau khi K thông báo có người hỏi mua ma túy thì N đưa xe mô tô BKS 29K1 – 937.25 của N để K sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo K, N không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đối với bị cáo K có ông nội là Nguyễn Văn N1 là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã tham gia dân công hỏa tuyến và được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân bị cáo Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Nguyễn Đức K khi phạm tội mới 17 tuổi 10 tháng 08 ngày là người chưa thành niên phạm tội nên được áp dụng các quy định tại Chương XII của Bộ luật hình sự, quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, ...”. Xét thấy trong vụ án các bị cáo cũng chưa thu lợi được từ việc mua bán trái phép chất ma túy, bản thân các bị cáo đều là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, các bị cáo đều có điều kiện về gia đình và kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[3]. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật. Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của K; 01 điện thoại di động Iphone màu đen thu giữ của N, đây là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu xám thu giữ của Nguyễn Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc xe môtô Honda BKS 29K1 - 937.25. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Dương Thị Kiều Đ, sinh năm 1961, trú tại số B ngõ G, Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội. Chiếc xe môtô trên chị Đ bị mất trộm vào khoảng tháng 7/2023 tại xã C, huyện T, Hà Nội. Tuy nhiên, Nguyên khai mua trên mạng với giá 16.000.000 đồng vào tháng 7/2023, nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi và tài liệu liên quan đối với vật chứng là chiếc xe môtô Honda BKS 29K1 - 937.25 để xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt Nguyễn Đức K 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt Nguyễn Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 13ml ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEL 356580109212150, đã cũ thu giữ của Nguyễn Đức K; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số IMEL 353821084268707, đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn N.
  • Trả lại Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động Iphone màu xám, số IMEL 352840110324228 đã cũ.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày 18/6/2024, giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức K, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS Sóc Sơn;
  • - Công an Sóc Sơn;
  • - Chi cục THA Sóc Sơn;
  • - PC54 CA Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Minh Đăng

1. Xử phạt Nguyễn Đức Kiên 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt Nguyễn Văn Nguyên 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 13ml ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEL 356580109212150, đã cũ thu giữ của Nguyễn Đức Kiên; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số IMEL 353821084268707, đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn Nguyên.
  • Trả lại Nguyễn Văn Nguyên 01 điện thoại di động Iphone màu xám, số IMEL 352840110324228 đã cũ.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày 18/6/2024, giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Văn Nguyên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Minh Đăng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

____***___

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Vào hồi 12h00', ngày 27 tháng 11 năm 2024.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Xuyên

Ông Nguyễn Văn Vĩ

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 226/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Văn Nguyên. Đều cư trú tại: Thôn An Lão, xã Sơn Lôi, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Căn cứ Điều 326; Điều 327 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Văn Nguyên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Kết quả biểu quyết: 3/3

II. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt Nguyễn Đức Kiên 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt Nguyễn Văn Nguyên 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Vinh, Long 45 ngày đảm bảo thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

III- Về các vấn đề khác:

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 13ml ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - BUTINACA do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, số IMEL 356580109212150, đã cũ thu giữ của Nguyễn Đức Kiên; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số IMEL 353821084268707, đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn Nguyên.
  • Trả lại Nguyễn Văn Nguyên 01 điện thoại di động Iphone màu xám, số IMEL 352840110324228 đã cũ.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày 18/6/2024, giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Văn Nguyên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 12h15', cùng ngày.

Biên bản làm xong đã đọc lại cho Hội đồng xét xử nghe công nhận đúng và ký tên dưới đây.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Minh Đăng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

***

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ

XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ

Vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Văn Long, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Hữu Bằng, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; con ông Đặng Văn Thành – (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lựu, sinh năm 1979; vợ Cao Thị Hồng, sinh năm 1991, có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
  2. Họ và tên: Trần Quang Vinh, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Tân Lập, xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; con ông Trần Cao Đại – đã chết và bà Trần Thị Tuyết – đã chết; vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13h00' ngày 19/12/2023, khi Đặng Văn Long đang ở nhà tại thôn Hữu Bằng, xã Tam Hợp, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, thì đối tượng Nguyễn Đình Tiệp, sinh năm 1986 ở thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội gọi điện thoại di động từ số 0962.013.xxx đến số điện thoại di động 0927.183.xxx của Long để hỏi mua loại thảo mộc khô có chứa ma túy gọi là “Cỏ Mỹ”, với giá 200.000đ. Long đồng ý và thỏa thuận giá bán và phí giao hàng là 300.000đ, rồi Long và Tiệp thống nhất địa điểm giao ma túy là trên tuyến đường Quốc lộ 2, thuộc địa phận xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Đến khoảng 13h30' cùng ngày 19/12/2023, Trần Quang Vinh đón Đặng Văn Long đi chơi điện tử. Trong lúc chơi điện tử, Long nói cho Vinh biết có khách hỏi mua 02 túi ma túy “Cỏ Mỹ”, với giá 200.000đ, cả phí giao hàng là 300.000đ. Vinh đồng ý và rủ Long đi bán cùng và hứa cho Long 100.000đ. Sau đó, Vinh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda không có biển kiểm soát chở Long đến điểm hẹn trước đó thuộc địa phận thôn Thanh Vân, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, thì bị tổ công tác của Công an huyện Sóc Sơn và Công an xã Tân Dân phát hiện bắt giữ.

Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT thu giữ của Trần Quang Vinh 10 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 6)cm, bên trong có chứa thảo mộc khô; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không đeo biển kiểm soát; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng số IMEI 01371.20029.9330. Thu giữ của Đặng Văn Long 01 điện thoại di động Iphone màu xám số IMEI 35329.10732.97739.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Quang Vinh tại thôn Tân Lập, xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan CSĐT không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Cơ quan CSĐT tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Trần Quang Vinh, Đặng Văn Long, Nguyễn Đình Tiệp, kết quả: Đều âm tính với chất ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Trần Quang Vinh khai mua của một người đàn ông không quen biết trên mạng xã hội với giá 300.000đ về để bán lại kiếm lời. Khi Vinh cùng Long đang trên đường đi bán thì bị bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra Trần Quang Vinh, Đặng Văn Long khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận giám định số 8458/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội giám định kết luận: Thảo mộc khô bên trong 10 túi nilon màu trắng thu giữ của Trần Quang Vinh là ma túy loại MDMB – 4en – PINACA, tổng khối lượng là 14,971 gam. Cơ quan giám định lấy 5,493 gam thảo mộc khô làm mẫu giám định, phần còn lại 9,478 gam được niêm phong hoàn trả Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không đeo biển kiểm soát, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chị Nguyễn Thị Lựu, sinh năm 1979 (là mẹ đẻ của Long). Chị Lựu cho Long mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết Long sử dụng vào việc phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Lựu là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với Nguyễn Đình Tiệp là đối tượng hỏi mua ma túy của Long. Sau đó Tiệp không có tiền nên không mua nữa. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý theo quy định.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Quang Vinh, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Trần Quang Vinh, Đặng Văn Long về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

ĐỀ XUẤT HƯỚNG GIẢI QUYẾT:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Vinh, Đặng Văn Long phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt Trần Quang Vinh 36 – 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.
  2. Xử phạt Đặng Văn Long 30 - 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 9,478 gam ma túy MDMB – 4en - PINACA do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng số IMEI 01371.20029.9330 thu giữ của Trần Quang Vinh; 01 điện thoại di động Iphone màu xám số IMEI 35329.10732.97739 thu giữ của Đặng Văn Long.

Số vật chứng trên theo biên bản giao vật chứng ngày ...., giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Quang Vinh, Đặng Văn Long mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Thẩm phán báo cáo

Trần Minh Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 245/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger