TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/HSST
Ngày: 11/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Dương.
- Bà Mai Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Trúc Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 192/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 284/2024/QÐST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Hoàng T, sinh năm 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số B, đường T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A, Đường A, Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Anh T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 10/4/2024 bị tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKS.CC ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Đoàn Hoàng T về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 04/4/2024, Đoàn Hoàng T liên lạc với người phụ nữ tên N qua mạng xã hội Z tên “Ngân Huỳnh” để hỏi mua ma túy đá với giá 2.300.000 đồng thì N đồng ý và cho người đến nhà T tại địa chỉ số A đường A, Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy và nhận tiền. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, có 01 người đàn ông không rõ lai lịch đến nhà T giao cho T 01 gói nylon chứa ma túy đá. T đưa cho người đàn ông số tiền 2.600.000 đồng gồm 2.300.000 đồng tiền mua ma túy và 300.000 đồng tiền vận chuyển. T vào phòng chiết 01 ít ma túy ra sử dụng một mình. Đến 12 giờ cùng ngày, có người bạn không rõ lai lịch rủ T đến huyện C để sử dụng ma túy thì T đồng ý, T điều khiển xe máy điện biển số 50Y1-842.98 mang theo gói ma túy đến khách sạn T6, thuộc xã B, huyện C. Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04/04/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an xã B, huyện C kiểm tra hành chính khách sạn T6 thì phát hiện Đoàn Hoàng T đang đứng ở hành lang có biểu hiện nghi nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trên tay trái T đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể. T khai nhận là ma túy đá mua của một người phụ nữ tên N (không rõ lai lịch) ở Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.300.000 đồng và đem đến khách sạn T6 để sử dụng. Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon chứa tinh thể, 01 xe máy điện biển số: 50Y1-84.298 và 01 điện thoại di động.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại số A đường A, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không thu thêm ma túy.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Đoàn Hoàng T: Dương tính với ma túy tổng hợp.
Kết luận giám định số 4367/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
+ Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đoàn Hoàng T3 và hình dấu Công an xã B, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4651 gam, loại Methamphetamine.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Đoàn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội:
- Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, bị cáo tàng trữ một gói nylon bên trong có chứa tinh thể khối lượng 2,4651g là ma túy thể rắn loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an xã B bắt quả tang vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04/4/2024 tại Ấp H, xã B, huyện C. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe máy điện biển số 50Y1-842.98, số khung: RPXN4LHHVNE0026160, số máy: VFHCHBC220607D0240. Qua điều tra xác định xe máy điện biển số 50Y1-842.98 do ông Phan T4 (sinh năm 1988, nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) mua và đứng tên đăng ký sở hữu năm 2022. Ngày 25/07/2023, ông T4 bán xe trên cho ông Nguyễn Anh T5 (sinh năm 1980, nơi thường trú: Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 04/4/2024, ông T5 cho bị cáo Đoàn Hoàng T thuê xe máy điện biển số 50Y1-842.98. Ông T5 không biết bị cáo T sử dụng xe đi đến xã B, huyện C sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng số 1879/QĐ-ĐCSMT đối với xe máy điện biển số 50Y1-842.98 bằng hình thức trả cho ông Nguyễn Anh T5 là phù hợp.
- 01 gói niêm phong mang số vụ 1328/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu iPhone, số imei 1: 357320092691865, số imei 2: 357320093335991, là tài sản của bị cáo T dùng để liên lạc mua ma túy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người phụ nữ tên N bán ma túy cho T, người đàn ông chưa rõ lai lịch giao ma túy cho T và người thanh niên rủ T sử dụng ma túy hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập để làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Đoàn Hoàng T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã tàng trữ 2,4651g ma túy thể rắn loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an xã B bắt quả tang vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04/4/2024 tại Ấp H, xã B, huyện C. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đoàn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2]. Bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[3] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- 01 xe máy điện biển số 50Y1-842.98, số khung: RPXN4LHHVNE0026160, số máy: VFHCHBC220607D0240, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả cho ông Nguyễn Anh T5 là phù hợp.
- 01 gói niêm phong mang số vụ 1328/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu iPhone, số imei 1: 357320092691865, số imei 2: 357320093335991, của bị cáo T dùng để liên lạc mua ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Đối với người phụ nữ tên N bán ma túy cho bị cáo, người đàn ông chưa rõ lai lịch giao ma túy cho bị cáo và người thanh niên rủ bị cáo sử dụng ma túy hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập để làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[6] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2024.
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1328/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
- + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu iPhone, số imei 1: 357320092691865, số imei 2: 357320093335991.
- Vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 140/PNK ngày 28/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL70).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Hoàng T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Thắm |
Bản án số 245/2024/HSST ngày 11/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 245/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
