|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 245/2024/DS-PT Ngày 22/5/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam;
Ông Phạm Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 22/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 197/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 5397/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tình T; có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh T1 và bà Nguyễn Thị D; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tình T; ông T1 có mặt, bà D vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện H, tình T; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày: Theo quyết định số 1485/QĐ/UB ngày 27/12/1988 của UBND tỉnh T v/v trưng dụng ruộng đất dành cho xây dựng cơ bản, UBND tỉnh T giao cho gia đình ông, bà thửa đất có kích thước 5mx18m, tổng là diện tích 90m² tại lô số 13 khu T, xã M. Gia đình ông Trần Thanh T1 được giao thửa đất có kích thước 5mx18m, tổng là diện tích 90m² tại lô số 15 khu T, xã M. Giữa 2 lô đất nhà ông bà và nhà ông T1 có một ngõ đi chung ra cánh đồng là lô số 14 có diện tích 54 m². Đến ngày 29/6/1990, UBND xã M đã nhượng lại cho gia đình ông, bà diện tích đường đi ra đồng sản xuất diện tích 54 m² với số tiền 250.000 đồng. Gia đình ông bà (lô số 13) và gia đình ông T1 (lô số 15) cùng các gia đình khác trong thôn xóm đều cấp sổ đỏ theo hiện trạng năm 2006, được xác định ranh giới mốc giới do các gia đình chỉ được đo bằng máy, vẽ trong bản đồ địa chính xã. Tháng 01/1991 ông T1 sang nói với ông T là năm 1989 ông T1 có làm móng sang đất ngõ của ông T 50cm chiều ngang móng, nên đề nghị mua lại diện tích đã làm móng trên ngõ mà ông bà đã mua, ông T nhất trí nhưng vì không do đạc nên không biết ông T1 làm lấn sang đất ngõ của gia đình ông T là bao nhiêu. Vì vậy, ông T và ông T1 thống nhất trong nội dung văn bản ngày 14/01/1991 tại UBND xã M là: “ ông T1 khi làm móng nhà, chân móng có sang đất của ông T số lượng là 50cm chiều ngang móng. Nay hai chúng tôi bàn nhau là: ông Thông đồng ý nhượng lại số đất chân móng nhà cả công trình nhà trên và công trình phụ dọc theo tường móng nhà mà ông T1 đã làm sang đất ông T...”. Theo văn bản này: ông T không nhượng cho ông T1 50 cm chiều ngang mà chỉ nhượng phần đất mà ông T1 đã làm móng. Tháng 6/1991 gia đình ông T xây nhà ở trên lô đất ngõ số 14, khi xây đã làm móng nhà sát móng nhà ông T1 đã xây năm 1989. Trong 14 năm ông T1 không có ý kiến gì, không có sự tranh chấp. Đầu tháng 4/2003 ông T phá nhà cũ giáp nhà ông T1, đào hết đất nền sâu hơn 2m, bùn nước nhiều, trật hết móng nhà ông T1, đã đóng cọc và rãi sắt nền móng thì ông T1 làm đơn đến xã đòi lấy thêm phần đất năm 1989 ông T1 không
làm móng nhà sang và không mua, gia đình ông bà cũng không bán cho ông T1 theo văn bản thỏa thuận ngày 14/01/1991. Xã M theo yêu cầu của ông T1 đã yêu cầu ông T làm nhà lùi lại so với mỏng nhà cũ và cách móng nhà ông T1 xây năm 1989 là: 22cm chiều ngang phía trước đường C; 45cm chiều ngang phía sau giáp mương. UBND xã thông báo nếu ông T không chấp nhận thì phải dừng công trình lại chờ giải quyết. Vì sợ để lâu vật liệu hỏng, nhà 2 tầng của ông T1 đổ sang, con ốm đi bệnh viện V chữa bệnh nên ông T quá lo sợ, không tỉnh táo, minh mẫn dẫn đến nhầm lẫn đã ký vào văn bản Kiểm tra đo lại đất nhà ông T1 ngày 08/4/2003, do đó văn bản ngày 08/4/2003 đã vô hiệu vì: Ông T do nhầm lẫn đã ký vào văn bản, bà M là vợ không đồng ý, không ký, đã phản đối xã kịch liệt. Hai vợ chồng ông bà đã 2 lần làm đơn đến UBND xã M đòi lại phần đất trên vào tháng 4/2003 và tháng 10/2003 vì văn bản sáng ngày 08/4/2003 thực chất là: xã thu hồi đất có nguồn gốc của gia đình ông bà và tài sản trên đất, đã sử dụng ổn định, nộp thuế đất đầy đủ cho nhà nước trong 14 năm, giao cho ông T1 là không đúng quy định của pháp luật. Từ năm 1990 đến nay gia đình ông bà vẫn đóng thuế khe rãnh này đầy đủ. Còn một phần đất khe rãnh này không nằm trong số đó nhà ông T1, không nằm trong sổ đỏ nhà ông T, tuy nhiên không được UBND xã giải quyết. Từ tháng 4/2003 đến tháng 10/2020, gia đình ông T1 không đóng thuế, không xây dựng, không sử dụng phần đất khe rãnh này. Tháng 12/2013 ông T1 xin cấp sổ đỏ theo hiện trạng về diện tích, ranh giới, mốc giới được đo vẽ trong bản đồ địa chính xã năm 2006. Diện tích đất ông T nhượng cho ông T1 ngày 14/01/1991 đã nằm trong số đỏ của ông T1. Đến năm 2020 ông T1 xây nhà, gia đình ông bà đã làm đơn đề nghị UBND xã giải quyết, UBND xã đã mời đơn vị đo độc lập đến đo xác định ranh giới, mốc giới đất của gia đình ông bà và gia đình ông T1 kết luận là: Giữa lô đất số 14 của gia đình ông bà và lô đất số 15 của gia đình ông T1 còn 01 khe rãnh có chiều rộng mặt trước đường C là 20cm. Chiều rộng mặt sau giáp mương (25- 30cm) và tường nhà 3 tầng trên lô số 14 của gia đình ông bà nghiêng sang khe rãnh này 15cm, như vậy: Tài sản của gia đình ông bà vẫn nằm trên khe rãnh này. Xã đo xác định chiều ngang nhà ông T1 lô đất số 15 như sau: Từ mốc giới nhà anh T2 lô số 16 đến tưởng nhà ông T lô số 14 có chiều ngang mặt trước đường C rộng 5,43m, có chiều ngang phía sau giáp mương rộng 5,53m. Gia đình ông bà không chấp nhận kết luận của UBND xã nên không ký vào biên bản vì từ năm 2012 ông T1 xây ốp táp thêm vào móng nhà ông T1, đóng thêm 2 cọc bên tông áp sát móng từ 10-15cm chạy dọc móng
khoảng 11m phía sau giáp mương để lấn chiếm khe rãnh này. Vì thế nên đến tháng 10/2020 xã đo chiều ngang phía sau giáp mương của khe rãnh này chỉ còn 25-30cm. Tháng 10/2020-01/2021 ông T1 phá nhà cũ xây năm 1989 làm lại nhà mới hiện nay, xây dựng làm 3 phần, đổ mái bằng đua ra ngoài đất sổ đỏ của ông T1, áp sát dọc tường nhà ông bà, chiếm toàn bộ phần không gian khe rãnh của gia đình ông bà. Phần khe rãnh này không nằm trong móng nhà ông T1 xây năm 1989, không nằm trong sổ đỏ của ông T1 cấp tháng 12/2013.
Gia đình ông bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông T1 phải tháo dỡ phần công trình xây dựng nhà ông T1 đã xây ngoài đất sổ đỏ và đè chồng nên đất sổ đỏ có nguồn gốc của gia đình ông bà và trả lại cho gia đình ông bà diện tích đất khe rãnh mà gia đình ông T1 đã lấn chiếm.
Quá trình giải quyết vụ án, phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn trình bày: Vào ngày 23/10/1988 gia đình ông và gia đình ông T cùng được UBND tỉnh T cấp cho mảnh đất có diện tích là (rộng 5m x dài 18m)= 90m² để xây dựng nhà ở. Giữa gia đình nhà ông (lô số 15) và gia đình ông T (lô số 13) có ngõ đi do (lô số 14) UBND xã M quản lý diện tích 54m² (3mx18m). Ông và ông T đã bàn nhau cùng mua để chia đôi, ông T đứng lên mua sau đó bán lại cho ông. Ngày 29/6/1990 UBND xã M đã bán phần ngõ đi này và ông T. Ngày 14/11/1991 hai bên lập biên bản ông T nhượng lại cho ông 50cm chiều ngang phần ngõ đi chạy dài hết đất nhà ông 18m, do móng nhà ông xây từ năm 1989 nên hai bên thống nhất là móng nhà ông đến đâu thì ông được sử dụng đến đó. Như vậy diện tích nhà ông là 5,5mx18 mét = 99m². Hai bên sử dụng ổn định không có tranh chấp gì cho đến năm 2003 gia đình ông T xây nhà, ông đã làm đơn đề nghị U, xác định mốc giới cho các bên. UBND xã đã tiến hành lập biên bản xác định ranh giới và giao cho hai bên quản lý theo biên bản ngày 08/4/2003. Sau khi có kết quả đo đạc cả nhà ông và gia đình ông T đều nhất trí và ký biên bản, theo nội dung biên bản đó xác định nhà ông có quyền sử dụng mặt tiền quốc lộ C là 5,40 mét. Gia đình ông T đã cắm mốc đổ móng hết phần đất của mình và xây dựng nhà 3 tầng như hiện nay. Năm 2020 gia đình ông sửa lại nhà trên phần móng cũ, ông T đã có đơn đề nghị UBND xã can thiệp, giải quyết. Ngày 26/10/2020 UBND xã M cùng các cán bộ đã xuống đo xác định cụ thể mốc giới, kết quả xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ông T chồng lấn lên móng nhà ông, đặc biệt tầng 3 nhà ông T nghiêng sang đất nhà ông 15cm. UBND xã xác định
gia đình ông đã xây đúng phần đất của mình nhưng gia đình ông T không đồng ý ký vào biên bản, UBND xã vẫn cho gia đình ông tiếp tục xây dựng. Nay ông T bà M khởi kiện buộc ông phải trả lại phần diện tích móng ông đã xây nhà, ông không đồng ý.
Ngoài ra, hộ gia đình ông T được UBND tỉnh giao 90m², sau đó UBND xã bán cho ông T diện tích đất ngõ 54 m² là trái thẩm quyền, năm 2019 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với chiều ngang mặt đường 39A là 8,46 mét vượt quá 0,96 mét vì ông T được cấp 5 mét mặt đường năm 1988 và mua thêm 2,5 mét mặt đường của xã năm 1990, vậy tổng chỉ có 7,5 mét. Ông không ký biên bản xác định ranh giới thửa đất, Cơ quan cấp giấy chứng nhận không xuống đo đạc cụ thể nguồn gốc đất, trong khi đây là mảnh đất đang tranh chấp nhiều năm; Không có chữ ký của hộ liền kề giáp ranh để xác định mốc cõi; Cấp vượt diện tích UBND tỉnh cấp cộng diện tích mua của UBND xã M ( 90m² + mua (54m² – 9m²)) =135m² tương dương 7.5m chiều ngang mặt đường 39 nhưng giấy chứng nhận QSDD 152,3m² vượt sang nhà ông 17,3m² tương đương vượt 0,96m sang diện tích nhà ông. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ông T cấp năm 2019 chồng lấn lên móng nhà ông trong khi ông làm nhà từ năm 1989 trước 30 năm. Gia đình ông T đã có hành vi lừa đảo, gian lận không kê khai khi xin cấp quyền sử dụng đất làm sai lệch hồ sơ, dẫn đến cấp giấy CNQSD đất trên cả diện tích đất đã bán cho nhà ông, ông T không nộp tiền sử dụng đất trên phần diện tích đất 0,5m x 18 = 54m² x 40.000.000/1m² =360.000.000 (giá thị trưởng hội đồng định giá) . Vì vậy, ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình:
- Yêu cầu ông T, Bà M trả lại phần đất mỏng đã bán cho gia đình ông là 17,3m² tương đương với 0,96m mặt đường chiều ngang móng mặt đường 39.
- Truy thu và phạt từ 1-5 lần số tiền sử dụng đất mà ông T gian lận số tiền 360.000.000 đồng.
- Yêu cầu ông T trả lại khoảng không cho nhà ông vì hiện nay Tầng 3 nhà ông T nghiêng sang nhà ông 15cm.
- Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 492646 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp 19-6- 2019 mang tên người sử dụng đất ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M và chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 683100 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp 31-12-2013 mang tên người sử dụng đất là Trần Thanh T1
Tại phiên tòa sơ thẩm ông Trần Thanh T1 xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ nguyên hiện trạng hai bên gia đình đang sử dụng.
Quá trình giải quyết vụ án, quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân huyện H như sau: Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn – ông Trần Thanh T3 đề nghị Toà án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 492646 cấp ngày 19/6/2019 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M với một số lý do: Đất đang có tranh chấp, khi cấp đất không có chữ ký của hộ liền kề, cấp lên phần đất đã bán cho bị đơn...; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 683100 cấp ngày 31/12/2013 do Ủy ban nhân dân huyện H đã cấp cho ông với lý do cấp thiếu diện tích đất....
Qua kiểm tra, rà soát của các phòng, ngành chuyên môn, cơ quan đơn vị có liên quan thấy việc cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nêu trên) cho các hộ gia đình ông Bùi Trung T, ông Trần Thanh T1 đối với 02 thừa đất tại thôn T, xã M, huyện H đã được thực hiện đúng quy trình, trình tự, thủ tục các bước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân huyện H đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
* Kết quả xác minh tại UBND xã M cung cấp: Về nguồn gốc diện tích đất của hộ gia đình ông Bùi Trung T là do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 1485/QĐ/UB ngày 27/12/1988 của UBND tỉnh T v/v trưng dụng ruộng đất dành cho XDCB diện tích 90m² kích thước 5mx18m. Đến năm 1990 gia đình ông T có mua của UBND xã thêm 54m² đất ngõ đi thể hiện tại Biên bản nhượng đất cho cá nhân sử dụng ngày 29/6/1990, theo đó UBND xã nhượng lại 1 đường đi ra đồng sản xuất diện tích 54 m² cho ông Bùi Trung T với số tiền 250.000 đồng (không có kích thước). Năm 2019, gia đình ông T đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 13 tờ bản đồ 04 diện tích 157,6m² (cấp theo bản đồ hiện trạng năm 2007), diện tích tăng thêm 13,6m² ông T đã nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo Giấy nộp tiền ngày 28/5/2019. Ngoài ra UBND xã không lưu giữ bất kì tài liệu gì về việc hợp pháp hoá quyền sử dụng diện tích 54m² đất ngõ đi theo Quyết định 335/QĐ-UB ngày 10/7/1987 của UBND tỉnh T.
Về nguồn gốc diện tích đất của hộ gia đình ông Trần Thanh T3 là do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 1476/QĐ/UB ngày 23/12/1988 của UBND tỉnh T. Đến năm 2013, gia đình ông T3 đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 15 tờ bản đồ 04 diện tích 96,7m² (cấp theo bản đồ hiện trạng năm 2007). Ngày 14/01/1991, ông T1 có nhận chuyển nhượng của ông T 50cm đất chiều ngang (phần chân móng nhà và công trình phụ nhà ông T1) dọc theo tường đất nhà ông T1, khi ông T1 làm hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 không nộp thêm bản này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 22/9/2023, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình đã xử:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 217; Điều 218; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 32; Điều 116 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 7, 8, 95, 96, 97,98, 99; khoản 2 Điều 105, 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M về việc: Yêu cầu ông T1 tháo dỡ phần công trình xây dựng và trả lại phần đất lấn ra ngoài phần đất của nhà ông T1 đã được cấp Giấy chứng nhận và đè chồng lên phần đất của gia đình ông T, bà M đã được cấp giấy chứng nhận.
2. Đình chỉ giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Thanh T1 về việc:
- Yêu cầu ông T, Bà M trả lại phần đất móng đã bán cho gia đình ông là 17,3m² tương đương với 0,96m mặt đường chiều ngang móng mặt đường 39A.
- Truy thu và phạt từ 1-5 lần số tiền sử dụng đất mà ông T gian lận số tiền 360.000.000₫.
- Yêu cầu ông T trả lại khoảng không cho nhà ông vì hiện nay Tầng 3 nhà ông T nghiêng sang nhà ông 15cm.
-Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 492646 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp 19-6- 2019 mang tên người sử dụng đất ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M và chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 683100 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp 31-12-2013 mang tên người sử dụng đất là Trần Thanh T1 vì cấp thiếu đất cụ thể là chiều ngang phía trước còn thiếu 29cm, chiều ngang phía sau còn thiếu 45cm.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/10/2023, nguyên đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho rằng phần diện tích đất khe hẹp giữa 2 nhà thuộc về quyền sử dụng đất của nguyên đơn; đề nghị sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Đơn kháng cáo của những người kháng cáo là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung Tòa án cấp sơ thẩm gaiar quyết là có căn cứ. Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án, tổng diện tích đất nguyên đơn mua nhỏ hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặt tiền nguyên đơn mua chỉ là 7,5m nhỏ hơn mặt tiền thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng:
[1] Ông T, bà M khởi kiện yêu cầu ông T1 tháo dỡ phần công trình xây dựng lấn ra ngoài phần đất của nhà ông T3 đã được cấp Giấy chứng nhận và đè chồng lên phần đất của gia đình ông T, bà M đã được cấp giấy chứng nhận và trả lại diện tích đất trên. Ông T1 không đồng ý với yêu cầu của ông T, bà M và có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc ông T, bà M trả lại phần đất móng đã bán cho gia đình ông T1 là 17,3m² tương đương với 0,96m mặt đường chiều ngang móng mặt đường 39A và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 492646 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp ngày 19/6/2019 mang tên người sử dụng đất ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 683100 của UBND huyện H, tỉnh Thái Bình cấp 31-12-2013 mang tên người sử dụng đất là Trần Thanh T1. Nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Về nội dung:
Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất thừa nhận tháng 10/1988 UBND tỉnh T cấp cho gia đình ông T thửa đất số 13 và gia đình ông T1 thửa đất số 15 cùng có diện tích là (rộng 5m x dài 18m)= 90m² thuộc tờ bản đồ địa chính số 04 thôn T, xã M để xây dựng nhà ở. Giữa 2 thửa đất số 13 và thửa đất số 15 có 01 ngõ đi là thửa đất số 14, diện tích 54m² (3x 18 m). Năm 1989, ông T1 xây nhà trên diện tích lô số 13 đã được cấp, khi xây phần móng nhà có lấn sang phần diện tích đất ngõ chung lô số 14, phần diện tích lấn sang không đo cụ thể. Đến năm 1990 gia đình ông T mua của UBND xã M diện tích 54m² đất ngõ đi là thửa số 14 thể hiện tại Biên bản nhượng đất cho cá nhân sử dụng ngày 29/6/1990 với giá 250.000 đồng. Đến ngày 14/11/1991 ông T và ông T1 đã lập biên bản với nội dung: “ Ông T1 khi làm móng nhà, chân móng có sang đất của ông T số lượng là 50cm chiều ngang móng. Nay hai chúng tôi bàn nhau là: ông Thông đồng ý nhượng lại số đất chân móng nhà cả công trình nhà trên và công trình phụ dọc theo tường móng nhà mà ông T1 đã làm sang đất ông T...”. Văn bản này đã được UBND xã chứng thực, nên có giá trị pháp lý và là chứng cứ xác nhận quyền sử dụng đất của các bên khi giả quyết tranh chấp. Theo thỏa thuận này thì ông T đã nhượng lại phần diện tích móng nhà ông T1 đã lấn sang ngõ đi chung trước kia là 50cm, ông Thông đồng ý để ông T1 quản lý, sử dụng toàn bộ đất và tài sản trên móng. Đến năm 1991 thì ông T xây nhà, tại các đơn đề nghị và
tại phiên tòa ông T, bà M đều thừa nhận đã làm móng giáp móng nhà ông T1. Do vậy, có cơ sở để xác định ông T có quyền sử dụng đối với diện tích đất gồm 90 m² do UBND tỉnh giao (5m x18 m) và 45m² đất mua của UBND xã (2,5mx18m), tổng là 135m²; mặt tiền của thửa đất sẽ là 7,5m. Ông T1 có quyền sử dụng diện tích đất gồm 90 m² do UBND tỉnh giao (5mx18m) và 09 m² đất mua của ông T (0,5mx18m), tổng là 99m², mặt tiền thửa đất là 5,5m. Các bên đều thừa nhận đã xây nhà và sử dụng ổn định từ năm 1991 cho đến năm 2003 thì gia đình ông T xây lại nhà, hai bên xảy ra tranh chấp, ông T1 đã làm đơn đề nghị giải quyết, UBND xã M đã tiến hành đo đạc và xác định ranh giới giữa các bên vào ngày 08/4/2003. Tại các biên bản giải quyết tranh chấp, biên bản đo lại đất, biên bản giao trách nhiệm ngày 08/4/2003 đã xác định gia đình ông T đã bán cho nhà ông T1 50cm; nhà ông T1 được sử dụng số đo mặt đường (mặt tiền) 39A là 5,5 mét. Các bên ký xác nhận, tiến hành đóng mốc giới và ông T nhất trí và đã làm móng và xây nhà 3 tầng như hiện nay.
[3] Năm 2013 ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 96,7m² với mặt tiền giáp đường 39A là 5,21m, tại phiên tòa sơ thẩm ông T1 trình bày khi thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông không biết, đơn vị đo đạc chỉ đo phần tường mà không đo phần móng nhà ông đã làm từ năm 1989 theo giấy tờ mua bán với ông T năm 1991. Năm 2020, khi ông T1 xây lại nhà, ông T lại có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp, UBND xã đã mời đơn vị đo độc lập về xác định ranh giới giữa các bên, theo biên bản ngày 05/11/2020 đã xác định nhà ông T đang sử dụng diện tích mặt đường 39A là 8,46m; ông T1 sử dụng diện tích mặt đường 39A là 5,4m và kết luận nhà ông T xây nghiêng sang nhà ông T1 15cm. Ông T1 đồng ý với kết luận của UBND xã nhưng gia đình ông T không nhất trí, không ký vào biên bản.
[4] Theo kết quả thẩm định tại chỗ ngày 28/7/2022, thể hiện gia đình ông T đang sử dụng 171m² (tăng lên 13,4 m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trong đó phần mặt tiếp giáp mặt đướng 39A là 8,34m; Gia đình ông T1 đang sử dụng diện tích 107,9m² ( tăng lên 11,2 m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) trong đó phần mặt tiếp giáp mặt đướng 39A là 5,4m. Tại phiên Tòa sơ thẩm các bên đều thừa nhận việc diện tích tăng lên là do sai số về đo đạc, trước đây đo thủ công, giờ đo bằng máy và tất cả các hộ trong khu đều tăng, các mốc giới vẫn
giữ nguyên không thay đổi. Ông T1 trình bày năm 2020, ông xây lại nhà nhưng không làm móng lại, vì quy mô nhà vẫn giữ nguyên là nhà 02 tầng, nhà ông chỉ tôn nền trên móng cũ vì đường 39A nâng cao lên 60cm; ông T, bà M cũng thừa nhận nhà ông T1 không làm lại móng cũ mà khi làm đã đổ rộng móng ra lấn sang phần rãnh thuộc đất nhà ông bà.
[5] Đối chiếu giữa ranh giới theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T và ông T1 là khớp nhau và không bị chồng lấn lên nhau. Năm 1991 ông T bán cho ông T1 50cm mặt đường 39A, trên đất có móng của ông T1 làm mốc, các bên đã tiến hành xây dựng nhà ở ổn định từ năm 1991 và đến năm 2003 không có tranh chấp gì. Như vậy, phần chiều rộng của đất giáp mặt đường 39A của hộ gia đình ông T1 hiện nay giảm đi so với văn bản đo đạc năm 2003, giảm so với thỏa thuận giữa các bên năm 1991 (5,50cm). Ngược lại, chiều rộng của đất giáp mặt đường 39A của hộ gia đình ông T hiện nay tăng lên so với giấy tờ mua đất. Từ năm 2003 trở lại đây, các bên đã xảy ra tranh chấp được chính quyền địa phương giải quyết và xác định lại mốc giới nhiều lần, các bên đã ký vào biên bản và tiến hành xây dựng lại nhà ở kiên cố.
[6] Theo kết quả thẩm định và các tài liệu do các bên cung cấp thì các bên đều sử dụng diện tích lớn hơn diện tích được giao; phần mốc giới các bên sử dụng đã có móng và xây dựng nhà kiên cố từ năm 1991. Các bên đều thừa nhận việc tăng diện tích các hộ đều do sai số đo đạc. Hiện nay hộ gia ông T1 đang sử dụng 5,4m mặt đường 39A là phù hợp với diện tích gia đình ông T1 được UBND tỉnh giao, phù hợp thỏa thuận giữa các bên năm 1991, đúng với biên bản đo đạc và xác định mốc giới, biên bản giao trách nhiệm ngày 08/4/2003 mà các bên đã ký kết và thực hiện. Đối với một số phần của công trình của 2 bên như một phần mi mái phía trước của nhà ông T, phần mái tôn đua ra phía trước nhà ông T1 ở phía mặt đường 39A có xây dựng chồng lấn. Hội đồng xét xử nhận thấy phần diện tích chồng lấn đó nhỏ (từ 0,06 đến 0,012 m) đua ra phía trước thuộc hành lang giao thông Quốc lộ C, các phần đó không ảnh hưởng đến kết cấu công trình của nhau và cũng không xâm phạm quyền sử dụng đất của nhau. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[8]. Về án phí: Do nguyên đơn là người cao tuổi được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Trung T và bà Phạm Thị M.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 245/2024/DS-PT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 245/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
