Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 245/2024/HSST

Ngày: 20/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Phạm Thị Minh Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thế Long – Ông Nguyễn Trung Đoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HS ngày tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: K, phường L, thành phố V, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu C và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Nguyễn Thị Diệu L; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 26/11/2008, Toà án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 5 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 531/2008/HSST; chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2010; Ngày 31/12/2013, Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; đã nộp phạt ngày 14/01/2014. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 26/3/2024 được trả tự do. Hiện đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Trung T - sinh năm 1986, trú tại: xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  2. Chị Trần Thị Thu H - sinh năm 1976, trú tại:khối B, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  3. Chị Phạm Thị H1 - sinh năm 1976, trú tại: K, phường Đ, thành phố V, Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định nên Nguyễn Hữu Q này sinh ý định cho người khác vay tiền để hưởng lãi suất, với mức lãi suất cho vay vượt quá mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cách thức thực hiện như sau: Sau khi thống nhất với người vay về số tiền vay, lãi suất phải trả, thời hạn trả và cách thức thanh toán thì Q sẽ giao tiền trực tiếp cho người vay hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Để thực hiện hành vi phạm tội, Q đã sử dụng tài khoản ngân hàng M và tài khoản ngân hàng S số 16106888888 đều mang tên Nguyễn Hữu Q để chuyển tiền cho vay và nhận tiền trả từ người vay; sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, lắp sim số 0948465678 để liên lạc với người vay tiền; sử dụng phần mềm quản lý có tên đăng nhập là “Taichinhquangcuong”, được đăng nhập trên trang web http://1cash.info/ để quản lý người vay, tiền cho vay, tiền lãi và việc thanh toán của từng người.

Với cách thức như trên, trong thời gian từ ngày 08/02/2023 đến ngày 16/12/2023, Q đã cho 03 người vay 06 lần, cụ thể như sau:

  1. Anh Nguyễn Trung T vay 02 lần, cụ thể:

    - Ngày 08/02/2023, anh T vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 146%/năm, cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự. Từ ngày 08/02/2023 đến ngày 30/9/2023, Q đã thu tiền lãi suất của 235 ngày là 18.800.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 20.000.000 đồng x 20% x 235ngày/365 ngày = 2.575.342 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 18.800.000 đồng – 2.575.342 đồng = 16.224.658 đồng.

    - Ngày 06/6/2023, anh T vay của Q 30.000.000 đồng với lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 146%/năm, cao gấp 7,3 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự. Từ ngày 06/6/2023 đến ngày 30/09/2023, Q đã thu tiền lãi suất của 117 ngày là 14.040.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 30.000.000 đồng x 20% x 117ngày/365 ngày = 1.923.288 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 14.040.000 đồng – 1.923.238 đồng = 12.116.712 đồng.

    Vậy, tổng số tiền anh T đã vay của Q là 50.000.000 đồng, số tiền lãi suất Q đã thu là 32.840.000 đồng; trong đó: lãi suất theo quy định là 4.498.630 đồng, số tiền vượt quá quy định là 28.341.370 đồng. Anh T đã trả hết tiền vay và tiền lãi suất cho Q.

  2. Chị Trần Thị Thu H vay 01 lần, cụ thể:

    Ngày 17/2/2023, chị H vay của Q 60.000.000 đồng với lãi suất 5.500 đồng/triệu/ngày, tương đương 200,75%/năm, cao gấp 10,03 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự và cắt lãi trước số tiền 10.000.000 đồng. Từ ngày 17/2/2023 đến ngày 02/12/2023, Q đã thu tiền lãi suất của 289 ngày là 95.370.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 60.000.000 x 20% x 289 ngày/365 ngày = 9.501.370 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 95.370.000 đồng – 9.501.370 đồng = 85.868.630 đồng. Chị H đã trả tiền lãi và 15.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ số tiền 45.000.000 đồng.

  3. Chị Phạm Thị H1 vay 03 lần, cụ thể:

    - Ngày 15/05/2023, chị H1 vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự và đã cắt lãi trước số tiền 1.800.000 đồng. Từ ngày 15/05/2023 đến ngày 16/7/2023, Q đã thu tiền lãi suất của 63 ngày là 3.780.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 20.000.000 đồng x 20% x 63 ngày/365 ngày = 690.411 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 3.780.000 đồng - 690.411 đồng = 3.089.589 đồng. Chị H1 trả hết tiền vay và tiền lãi suất cho Q.

    - Ngày 01/08/2023, chị H1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự và đã cắt lãi trước số tiền 4.500.000 đồng. Từ ngày 01/8/2023 đến ngày 29/10/2023, Q đã thu tiền lãi suất của 90 ngày là 13.500.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 50.000.000 đồng x 20% x 90 ngày/365 ngày = 2.465.753 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 13.500.000₫ – 2.465.753đ = 11.034.247 đồng. Chị H1 đã trả hết tiền lãi vay và 29.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ tiền gốc là 21.000.000 đồng.

    Từ ngày 29/10/2023 đến 28/11/2023, Q thu tiếp của chị H1 tiền lãi suất 30 ngày của số tiền nợ gốc 21.000.000 đồng là 1.890.000 đồng (tương đương với mức lãi suất của khoản vay gốc); trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 21.000.000 đồng x 20% x 30 ngày/365 ngày = 345.205 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 1.890.000 đồng – 345.205 đồng = 1.544.795 đồng. Chị H1 đã trả hết tiền lãi và 1.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ tiền gốc là 20.000.000 đồng.

    Từ ngày 28/11/2023 đến 29/02/2024, Q thu tiếp của chị H1 tiền lãi suất 93 ngày của số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng là 5.580.000 đồng (tương đương với mức lãi suất của khoản vay gốc); trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 20.000.000 đồng x 20% x 93 ngày/365 ngày = 1.019.178 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 5.580.000 đồng – 1.019.178 đồng = 4.560.822 đồng. Chị H1 đã trả hết tiền vay và tiền lãi suất cho Q.

    - Ngày 16/12/2023, chị H1 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự và đã cắt lãi trước số tiền 900.000 đồng. Từ ngày 16/12/2023 đến ngày 14/3/2024, Q đã thu tiền lãi suất của 90 ngày là 2.700.000 đồng; trong đó: số tiền lãi suất theo quy định là 10.000.000 đồng x 20% x 90 ngày/365 ngày = 493.151 đồng; số tiền lãi suất vượt quá quy định là 2.700.000 đồng – 493.151 đồng = 2.206.849 đồng. Chị H1 đã trả hết tiền lãi vay, còn nợ tiền gốc là 10.000.000 đồng.

    Vậy, tổng số tiền Q cho chị H1 vay là 80.000.000 đồng, tổng số tiền lãi Q đã thu của chị H1 là là 23.670.000 đồng; trong đó: lãi suất theo quy định là 5.013.699 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 19.346.712 đồng.

Như vậy, từ ngày 08/02/2023 đến ngày 16/12/2023, Nguyễn Hữu Q đã cho các chị Phạm Thị H1, Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Trung T vay tổng số tiền là 190.000.000 đồng (Một trăm, chín mươi triệu đồng), với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.500 đồng/triệu/ngày, tương đương lãi suất từ 109,5 đến 200,75%/năm, cao gấp 5,475 đến 10,03 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi suất Q đã thu là 155.660.000 đồng (Một trăm, năm mươi lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi đồng).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do đó, số tiền lãi suất theo quy định là 19.013.699 đồng, số tiền lãi suất vượt quá quy định và Q đã thu lợi bất chính là 136.646.301 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm linh một đồng). Những người vay đã trả tiền vay gốc cho Q là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng). Số tiền này, Q đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 20/3/2024, các chị Phạm Thị H1, Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Trung T đã có đơn tố cáo hành vi của Nguyễn Hữu Q. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Q.

Bản Cáo Trạng số 185/CT-VKS-TPV ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Hữu Q về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :

  • Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Truy thu sung Ngân sách nhà nước tại bị cáo Nguyễn Hữu Q số tiền gốc cho Nguyễn Trung T, Trần Thị Thu H, Phạm Thị H1 vay là 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) là phương tiện phạm tội và 19.013.699 đồng (mười chín triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín nghìn đồng) là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền phát sinh từ tội phạm;

    Truy thu sung Ngân sách nhà nước tại chị Phạm Thị H1 số tiền gốc mà bị cáo cho vay là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); Truy thu sung quỹ nhà nước tại chị Trần Thị Thu H số tiền gốc mà bị cáo cho vay là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng);

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Q phải trả lại cho chị Phạm Thị H1 số tiền 22.436.301₫ (hai mươi hai triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng); trả cho anh Nguyễn Trung T số tiền 28.341.370đ (Hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng); trả cho chị Trần Thị Thu H số tiền 85.868.630đ (tám mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi đồng) là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính từ người vay.

    Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max số seri H58H50080D4J, lắp sim số 0948465678, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Hữu Q hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An

  • Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu Q đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định: Từ ngày 08/2/2023 đến ngày 16/12/2023, trên địa bàn thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Hữu Q đã cho các chị Trần Thị Thu H, Phạm Thị H1 và anh Nguyễn Trung T vay 06 lần với tổng số tiền 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng), lãi suất từ 109,5%/năm đến 200,75%/năm, cao gấp từ 5,475 lần đến 10,03 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự; thu lợi bất chính tổng số tiền 136.646.301 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm linh một đồng).

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2]. Vụ án thuộc ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản, mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi cho người khác vay để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất mà pháp luật quy định.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều thành tích trong sinh sống tại địa phương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích ở trên nghĩ cần không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[2.4] Về xử lí vật chứng:

Đối với số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) là khoản tiền bị cáo sử dụng cho vay là phương tiện phạm tội. Trong đó: Nguyễn Hữu Q đã cho anh Nguyễn Trung T vay tổng số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng; anh T đã trả cho bị cáo số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc nên cần truy thu tại bị cáo để sung quỹ Nhà nước. Nguyễn Hữu Q đã cho chị Trần Thị Thu H2 vay tổng số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng); chị H đã trả cho bị cáo số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tiền vay gốc nên cần truy thu tại bị cáo để sung quỹ Nhà nước; Số tiền gốc còn lại là 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) chị H chưa trả cho bị cáo số tiền này nên cần truy thu tại chị H để sung vào Ngân sách Nhà nước. Nguyễn Hữu Q đã cho chị Phạm Thị H1 vay tổng số tiền 80.000.000₫ (tám mươi triệu đồng); chị H1 đã trả cho bị cáo số tiền 70.000.000₫ (bảy mươi triệu đồng) tiền vay gốc nên cần truy thu tại bị cáo để sung quỹ Nhà nước; Đối với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền vay gốc còn lại chị H1 chưa trả được cho bị cáo nên cần truy thu tại chị H1 để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền lãi suất 155.660.000đ (một trăm năm mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) anh T, chị H1, chị H đã trả cho bị cáo. Trong đó xác định được 19.013.699đ (mười chín triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng) là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là khoản tiền thu lợi bất chính phát sinh từ tội phạm cần truy thu tại bị cáo để sung quỹ Nhà nước; Đối với số tiền lãi 136.646.301đ (một trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng) là khoản tiền lãi trên mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo thu lợi bất chính từ người vay nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh T, chị H, chị H1 cụ thể như sau: trả lại cho chị Phạm Thị H1 số tiền 22.436.301đ (hai mươi hai triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng); trả cho anh Nguyễn Trung T số tiền 28.341.370đ (Hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng); trả cho chị Trần Thị Thu H số tiền 85.868.630₫ (tám mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi đồng).

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max số seri H58H50080D4J, lắp sim số 0948465678 được xác định là công cụ phạm tội cần tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước.

[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về mức hình phạt: Căn cứ vào khoản 2 điều 201; điểm s khoản 1, 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu Q 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/8/2024). Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

    Giao bị cáo Q cho UBND phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo.

    “Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.”

  2. Về xử lí vật chứng: Căn cứ điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Truy thu sung Ngân sách nhà nước tại bị cáo Nguyễn Hữu Q số tiền gốc cho Nguyễn Trung T, Trần Thị Thu H, Phạm Thị H1 vay là 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) và 19.013.699 đồng (mười chín triệu mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín nghìn đồng) là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm;

    Truy thu sung Ngân sách nhà nước tại chị Phạm Thị H1 số tiền gốc mà bị cáo cho vay là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); Truy thu sung quỹ nhà nước tại chị Trần Thị Thu H số tiền gốc mà bị cáo cho vay là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng);

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Q phải trả lại cho chị Phạm Thị H1 số tiền 22.436.301đ (hai mươi hai triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm linh một đồng); trả cho anh Nguyễn Trung T số tiền 28.341.370đ (Hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm bảy mươi đồng); trả cho chị Trần Thị Thu H số tiền 85.868.630đ (tám mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi đồng).

    Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max số seri HJ8HJ0080D4J, lắp sim số 0948465678, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Hữu Q hiện có tại kho chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/266 ngày 20/8/2024

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Hữu Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - VKSND TP Vinh
  • - Chi cục THA DS TP Vinh
  • - Công an TP Vinh
  • - Bị cáo
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Phạm Thị Minh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 245/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 08/2/2023 đến ngày 16/12/2023, trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Hữu Quang đã cho các chị Trần Thị Thu Hà, Phạm Thị Huyền và anh Nguyễn Trung Thời vay 06 lần với tổng số tiền 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng), lãi suất từ 109,5%/năm đến 200,75%/năm, cao gấp từ 5,475 lần đến 10,03 lần so với mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự; thu lợi bất chính tổng số tiền 136.646.301 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi sáu nghìn, ba trăm linh một đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger