TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/HS-PT
Ngày: 16-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Mỹ |
| Ông Phạm Minh Tùng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 116/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Văn P1, Nguyễn Huỳnh Đ, Lê Phương Thái N và Huỳnh Quốc T. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Văn P1, Nguyễn Huỳnh Đ, Lê Phương Thái N và Huỳnh Quốc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Phạm Tiến P; sinh ngày 05/11/2004 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phạm Văn P2; Con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1981; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 29/11/2023, bị cáo bị bắt tạm giam để điều tra về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H (có mặt).
2/ Họ và tên: Nguyễn Chí H; sinh ngày 17/3/2000 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1974; Con bà Nguyễn Diễm T1, sinh năm: 1983; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Ngày 28/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong quyết định vào ngày 23/4/2021; Tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 04/01/2024, bị cáo bị bắt tạm giam để điều tra về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H (có mặt).
3/ Họ và tên: Lê Văn P1; sinh ngày 09/4/2005 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Hồng T2, sinh năm: 1973; Con bà Hồ Thị G, sinh năm: 1978; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
4/ Họ và tên: Nguyễn Huỳnh Đ; sinh ngày 15/11/1988 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Đại M (chết); Con bà: Huỳnh Thị T3, sinh năm: 1962; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Thị D, sinh năm 1988 (Đã ly hôn năm 2014). Trước đây sống như vợ chồng với Huỳnh Thị Lệ T4, sinh năm 1997, hiện nay không còn sống chung; Con: 02 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: Ngày 10/01/2021, bị Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, thực hiện nộp phạt vào ngày 19/01/2021; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
5/ Họ và tên: Lê Phương Thái N; sinh ngày 27/4/2001 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lê Văn T5, sinh năm: 1976; Con bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1978; Gia đình có 02 chị, em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 25/01/2024, bị cáo bị bắt tạm giam để điều tra về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H (có mặt).
6/ Họ và tên: Huỳnh Quốc T; sinh ngày 26/02/2004 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Duy K, sinh năm: 1979; Con bà Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1980; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Quốc T theo yêu cầu là Luật sư Võ Thị Băng G1 - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Trong vụ án còn có bị cáo Lê Phước V; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; bị cáo Trương Hải Đ1 có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 05/11/2022, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 và chị Huỳnh Thị Lệ T4, sinh năm 1997 cùng cư ngụ tại khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, có mâu thuẫn về việc nợ tiền vay nên giữa bà H1 và chị T4 phát sinh cự cãi, được những người xung quanh can ngăn nên cả hai giải tán.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Huỳnh Đ (sống chung như vợ chồng với T4), nghe người thân kể lại sự việc T4 và H1 cự cãi nhau nên Đ bực tức lấy một cây dao cán gỗ trong nhà T4 đi đến khu vực phía trước nhà bà H1 chửi tục, la lối lớn tiếng gây mất trật tự và dùng dao chặt gãy các cây kiểng gồm 01 (một) bụi Cao kiểng, 01 (một) cây Đại tướng quân, 02 (một) bụi cây Lưỡi hổ của bà H1 rồi bỏ đi về nhà.
Sau khi Nguyễn Huỳnh Đ bỏ đi, bà H1 gọi điện thoại cho Nguyễn Phạm Tiến P (con ruột của H1) thông tin lại sự việc Đ chặt phá tài sản và kêu P về nhà. Lúc này, P đang ngồi uống rượu tại nhà bạn ở phường A, thành phố H nên P đến gặp Lê Phước V, Lê Văn P1, Huỳnh Quốc T đang ngồi uống nước tại đường N thuộc khóm C, phường A, thành phố H. P nói với V “Nhà tao bị người ta đập phá, V mầy chạy đi lấy đồ (tức lấy dao tự chế)”, V và Thông đồng ý. Vĩ và T đi đến khu vực gần nhà V tại khóm S, phường A, thành phố H lấy một túi vải (loại túi đựng cần câu cá) bên trong có chứa nhiều hung khí gồm dao, kiếm, mã tấu tự chế.
Khi V và T đi lấy hung khí, P tiếp tục điện thoại cho với Lê Phương Thái N, Đặng Bảo T7 nói “Nhà tôi bị người ta đập phá, anh em qua tiếp”, N và T7 nghe P nói vậy nên đồng ý tiếp sức. Khi P đang đứng ngoài đường thì thấy Võ Phương Q (sinh năm 2005, ngụ khóm S, phường A) chạy xe ngang nên P nhờ Q chở về nhà. Khi đến gần Hội quán A1 (đối diện chợ phường A) thuộc khóm S, phường A thì P gặp V và T mang theo một túi vải chứa hung khí; P mở túi vải lấy một dao tự chế lên xe nhờ Q chở về nhà P rồi Q bỏ về. Liền sau đó H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66K1-173.00, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius (xe không biển số) chở T mang theo túi vải chứa nhiều dao, kiếm, mã tấu tự chế và ném xuống đất. Lúc này T7, P1, H, V, T và một số thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể mỗi người lấy một hung khí cầm trên tay chạy theo P đến trước nhà chị Lê Thị T8 Trang mục đích để tìm Nguyễn Huỳnh Đ đánh nhau. Lê Phương Thái N điều khiển xe mô tô biển số 66P1-242.68 chở Trương Hải Đ1 đến sau gặp và hợp lực với nhóm của P trước nhà của chị Lê Thị Thùy T9. Do cả nhóm nhầm tưởng nhà Lê Thị Thùy T9 là nhà của Huỳnh Thị Lệ T4 nên P, T7, H xông vào đạp vào hàng rào, đập phá bảng hiệu, đập phá 02 (hai) tượng gồm hình thú (chó) trước nhà chị T9. Khi đập phá xong tài sản của chị T9 thì P, H, T7 cùng T, Đ1, P1, V cầm hung khí đứng ngoài đường chửi tục, la lối lớn tiếng, thách thức đánh nhau với Nguyễn Huỳnh Đ nhưng không ai trả lời. Sau đó, P, H, T7 và P1 đi sang nhà của chị T4 dùng hung khí là dao tự chế chém, đập phá vào cánh cửa phòng, nắp bảo vệ máy điều hòa, ném đá làm vỡ bình đựng rượu tại nhà của T4.
Sau khi đập phá tài sản tại nhà chị T4 xong, P, H, T7, T, Đ1, P1, V, N cùng một số thanh niên trong nhóm đi cùng bước ra đứng trên đường giao thông, trên tay mỗi người trong nhóm của P đều cầm hung khí tự chế, đi lại tới lui trên đường chửi tục, la lối lớn tiếng, thách thức đánh nhau với Nguyễn Huỳnh Đ. Thời điểm này có nhiều người dân xung quanh nghe tiếng la lối, ồn ào nên đến xem và thấy hoang mang trước hành vi của nhóm người đi cùng P hủy hoại tài sản tại nhà chị Lê Thị Thùy T9 và Huỳnh Thị Lệ T4. Sự việc kéo dài khoảng 10 phút đến 15 phút thì cả nhóm lên xe rú ga, chạy xe tốc độ cao rời khỏi hiện trường gây mất trật tự đoạn đường dài khoảng 2km.
* Các vật chứng và tài sản bị tạm giữ:
- Thu giữ tại nhà chị Lê Thị Thùy T9 gồm:
- + 01 (một) cái túi vải, màu đen, có chiều dài 125cm, chiều rộng 25,5cm, đã qua sử dụng;
- + 02 (hai) mảnh vỡ bằng gốm của tượng hình thú (chó).
- T10 tại nhà chị Huỳnh Thị Lệ T4 gồm:
- + 01 (một) mảnh vỡ bằng thủy tinh của bình thủy tinh, độ dày 02mm;
- + 02 (hai) thanh nhôm, màu trắng, kích thước (36 cm x 10,5cm), bị cong vênh biến dạng và nhiều vết đứt;
- + 01 (một) cụt đá không xác định hình dạng, chiều dài 23cm, chiều rộng 15cm;
- + 01 (một) cụt đá không xác định hình dạng, chiều dài 24cm, chiều rộng 13cm;
- + 01 (một) cụt đá không xác định hình dạng, chiều dài 10,5cm, chiều rộng 8cm;
- + 01 (một) cây dao có chiều dài 40cm, lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 27,5cm, chiều rộng 6,5cm, mũi bằng, cán bằng gỗ hình trụ tròn có chiều dài 12,5cm, hoành 12,5cm, đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Lê Phương Thái N: 01 (một) cái áo thun, tay ngắn, màu đen và 01 (một) cái quần sọt Jean, màu xanh, đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Lê Phước V: 01 (một) cái áo thun, tay ngắn, màu trắng và 01 (một) cái quần sọt thun, màu đen, đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Nguyễn Chí H: 01 (một) xe mô tô biển số 66K1- 173.00, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu xanh - đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- Thu giữ 02 (hai) đoạn Video tại hiện trường gồm:
- + 01 (một) tệp tin video (ghi lại hình ảnh diễn biến của vụ án) có tên: XVR_ch3_main_20221105213800_20221105214254.mp4;
- + 01 (một) tệp tin video (ghi lại hình ảnh diễn biến của vụ án) có tên: VIDEO_DOWNLOAD_1667709887601_1668998212677.mp4.
Riêng các hung khí tự chế các bị can sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.
Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG, ngày 17/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố H, kết luận:
- Tài sản thiệt hại của bà Nguyễn Thị H1:
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) bụi Cao kiểng (gồm nhiều cây) kích thước tổng hoành góc là 90cm, cao 1,4m, táng rộng 1,7m, có phần đọt bị cắt ngang,mặt cắt có kích thước 45cm x 30cm là 300.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) cây Đại Tướng Quân cao 71cm, đường kính tán 01m có phần thân bị cắt ngang, đường kính mặt cắt là 08cm là 100.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) bụi cây Lưỡi hổ cao 55cm, đường kính tán 66cm, có phần đọt bị cắt ngang, mặt cắt có kích thước 45cm x 45cm là 45.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) bụi cây Lưỡi hổ cao 55cm, đường kính tán 66cm, có phần đọt bị cắt ngang, mặt cắt có kích thước 45cm x 45cm là 45.000 đồng.
- Tài sản bị thiệt hại của chị Lê Thị Thùy T9:
- + Giá trị thiệt hại 02 (hai) tượng gốm hình thú (chó) đã bị vỡ phần đầu có kích thước 35cm x 40cm là 500.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) bảng quảng cáo có kích thước 1,64m x 0,88m, kết cấu khung sắt, phần mặt bảng quảng cáo chất liệu bằng kim loại có kích thước 1,22m x 0,88m, tại mặt phẳng bảng quảng cáo có vết rách dài 1,22m là 400.000 đồng.
- Tài sản bị thiệt hại của chị Huỳnh Thị Lệ T4:
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) cửa phòng bằng nhôm, kích thước (2,15m x 0,88m), bị cong vênh biến dạng và một số lá nhôm bị biến dạng sứt rời là 2.000.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) bình thủy tinh, có nắp bằng nhựa đường kính 14cm, kích thước đường kính đáy là 27cm, bị vỡ hoàn toàn là 70.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 01 (một) nắp bảo vệ bằng nhựa kích thước (46cm x 46cm) lắp phía ngoài cục nóng lạnh nhãn hiệu AQUA, bị vỡ kích thước (09cm x 07cm), tương ứng phía bên trong thấy lớp lưới tảng nhiệt bị cong vênh biến dạng một đường dài 09 cm và rộng 01 cm (theo hướng từ ngoài vào trong) là 120.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 02 (hai) kilogam long nhãn là 300.000 đồng;
- + Giá trị thiệt hại 18 (mười tám) lít rượu gạo là 630.000 đồng.
Bản kết luận giám định số: 237/KL-KTHS, ngày 27/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:
- - Một phong bì màu trắng được dán kín, niêm phong còn nguyên vẹn, có đóng hình dấu màu đỏ của “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp”, có các chữ ký ghi họ tên: Trần Việt A, Trương Hải Đ1, Huỳnh Hoàng M1, Nguyễn Thị Phương N2, Phạm Minh T11. Bên trong phong bì có một đĩa DVD-R, đã qua sử dụng và trong đĩa DVD-R có lưu một tệp tin video có tên: XVR_ch3_main_20221105213800_20221105214254.mp4, không có cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh;
- - Một phong bì màu trắng được dán kín, niêm phong còn nguyên vẹn, có đóng hình dấu màu đỏ của “Công an phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp”, có các chữ ký ghi họ tên: Trần Việt A, Huỳnh Thị Lệ T4, Nguyễn Quốc T12, Huỳnh Hoàng M1. Bên trong phong bì có một đĩa DVD-R, đã qua sử dụng và trong đĩa DVD-R có lưu một tệp tin videocó tên: VIDEO_DOWNLOAD_1667709887601_1668998212677.mp4, không đủ cơ sở kết luận có bị cắt ghép, chỉnh sữa về nội dung hình ảnh hay không.
- - Các vật chứng thu giữ Cơ quan điều tra đã xử lý:
- + Trả cho Lê Phương Thái N: 01 (một) cái áo thun, tay ngắn, màu đen và 01 (một) cái quần sọt Jean, màu xanh, đã qua sử dụng; Đây là những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Phương Thái N.
- + Trả cho Lê Phước V: 01 (một) cái áo thun, tay ngắn, màu trắng và 01 (một) cái quần sọt thun, màu đen, đã qua sử dụng. Đây là những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Phước V.
- - Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống về việc vay mượn tiền giữa chị Huỳnh Thị Lệ T4 và bà Nguyễn Thị H1. Nhưng do bên vực T4 nên Nguyễn Huỳnh Đ đã thiếu kiềm chế bản thân đứng trên đường giao thông phía trước cửa nhà chị H1 cầm dao tự chế chửi thô tục và chặt phá tài sản của bà Nguyễn Thị H1 gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Nguyễn Phạm Tiến P bên vực bà Nguyễn Thị H1 nhưng không lựa chọn cách ứng xử, giải quyết phù hợp, lại muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên cùng Nguyễn Chí H, Lê Văn P1, Đặng Bảo T7 đập phá tài sản tại nhà của chị Lê Thị Thùy T9 và chị Huỳnh Thị Lệ T4. Bên cạnh đó P, H, P1, Đ1, T, V, N, T7 xem thường các quy tắc sống cơ bản tại cộng đồng dân cư nên đã sử dụng dao tự chế là hung khí nguy hiểm tụ tập trên đường chửi tục, la lối lớn tiếng, chạy xe nẹt pô trên đoạn đường dài, gây ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Thùy T9 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của Lê Văn P1, Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H với số tiền 1.100.000 đồng; Bị hại Huỳnh Thị Lệ T4 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của Lê Văn P1, Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H với số tiền 5.500.000 đồng; Bị hại Nguyễn Thị H1 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của Nguyễn Huỳnh Đ với số tiền 1.100.000 đồng và các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P 09 (chín) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P 03 (ba) năm tù.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 30/11/2023).
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 07 (bảy) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 02 năm 06 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 04/01/2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P1 phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P1 04 (bốn) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P1 01 (một) năm 06 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Văn P1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Lê Phương Thái N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Lê Phương Thái N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 26/01/2024).
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Lê Phước V 06 (sáu) tháng tù và Trương Hải Đ1 02 (hai) năm tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Trong các ngày 26 tháng 3, ngày 02 và ngày 05 tháng 4 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Phương Thái N và Huỳnh Quốc T cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ và Lê Văn P1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo kháng cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H và Lê Văn P1 bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về các tội “Hủy hoại tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 178; điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Lê Phương Thái N, Huỳnh Quốc T và Nguyễn Huỳnh Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Lê Phương Thái N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Lê Văn P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét cho các bị cáo. Bị cáo Huỳnh Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới như bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi cha mất khả năng lao động và ông nội lớn tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Văn P1, Lê Phương Thái N và Huỳnh Quốc T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo P, H, P1, N và T.
Đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, xuất phát từ việc bênh vực chị T4 mà bị cáo đã có hành vi cầm cây dao cán gỗ đi đến trước nhà bà H1 chửi tục, la lối lớn tiếng gây mất trật tự và dùng dao chặt gãy các cây kiểng của bà H1. Từ hành vi của bị cáo mới dẫn đến việc các bị cáo khác thực hiện hành vi như đã nêu trên. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới như sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường, khắc phục thiệt hại cho chị H1 xong; bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi 02 con còn nhỏ (bị cáo đã ly hôn với vợ). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo đến hiện trường và thực hiện hành vi một mình, không đồng phạm với các bị cáo còn lại. Việc án sơ thẩm áp dụng Điều 17 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là chưa phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đ.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét đề nghị của vị luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Quốc T là chưa phù hợp như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên nên không chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Phương Thái N, Lê Văn P1 và Huỳnh Quốc T không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định. Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Phương Thái N, Lê Văn P1 và Huỳnh Quốc T. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Phương Thái N, Lê Văn P1 và Huỳnh Quốc T.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ. Sửa quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đ.
2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H và Lê Văn P1 cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Hủy hoại tài sản”.
Tuyên bố các bị Nguyễn Huỳnh Đ, Lê Phương Thái N và Huỳnh Quốc T cùng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P 09 (chín) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P 03 (ba) năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự; Buộc bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt với bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 07 (bảy) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự; Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt với bản án số 198/2024/HS-PT ngày 13/8/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (chín) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Phương Thái N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt với bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hồng Ngự xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo Lê Phương Thái N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 25/01/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P1 04 (bốn) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P1 01 (một) năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự; Buộc bị cáo Lê Văn P1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc các bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P, Nguyễn Chí H, Lê Phương Thái N, Lê Văn P1 và Huỳnh Quốc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 245/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự phúc thẩm về tội hủy hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 245/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Hủy hoại tài sản và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản
