TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI | Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
|
Bản án số: 285/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 8 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Tam.
- Bà Hoàng Thị Mai.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 1061/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 325/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều N, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: K, khu phố T, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Bùi Khánh H, sinh năm 1987.
- Địa chỉ: K, khu phố T, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Kiều N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được UBND phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111 ngày 12 tháng 9 năm 2011. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà và ông H đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ nên bà xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông H có 02 con chung là cháu Bùi Yến T, sinh ngày 17/01/2010 và cháu Bùi Khánh M, sinh ngày 17/08/2011. Hiện nay, hai cháu đang do ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, các cháu phát triển tốt. Ly hôn, bà đồng ý giao 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời bà cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng/02 cháu (500.000 đồng/cháu/tháng).
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bà xin xét xử vắng mặt do bận công việc.
* Bị đơn ông Bùi Khánh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án tham gia tố tụng.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình tố tụng không có lý do nên không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Kiều N.
Về con chung: Giao cháu Bùi Yến T, sinh ngày 17/01/2010 và cháu Bùi Khánh M, sinh ngày 17/08/2011 cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng/02 cháu (500.000 đồng/cháu/tháng).
Về tài sản chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà N trình bày không có, ông H chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị Kiều N khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Bùi Khánh H. Ông H có nơi cư trú tại: K, khu phố T, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà xét xử nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà N, ông H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111 ngày 12 tháng 9 năm 2011, nên là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Theo trình bày của bà N thì quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xung đột dẫn đến vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà N và ông H đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N xin được ly hôn với ông H.
Tại văn bản xác minh ngày 25/5/2023, địa phương cung cấp không nắm được thông tin mâu thuẫn giữa bà N, ông H. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do chứng tỏ ông H không có thiện chí trong việc hàn gắn, bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà N. Trong khi đó, bà N kiên quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà N, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Ông H không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà N xin ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà N và ông H có 02 con chung là cháu Bùi Yến T, sinh ngày 17/01/2010 và cháu Bùi Khánh M, sinh ngày 17/08/2011. Ly hôn, bà N có nguyện vọng giao 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời bà N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng/02 cháu (500.000 đồng/cháu/tháng).
Tại biên bản xác minh ngày 25/5/2023, địa phương cung cấp thông tin hiện nay hai cháu đang do ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, các cháu phát triển tốt. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định không ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu thì tại thời điểm hiện nay việc giao các cháu cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của bà N giao các con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về mức cấp dưỡng do ông H không có ý kiến, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của bà N với số tiền là 1.000.000 đồng/02 cháu/tháng.
Bà N có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở bà N thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H chưa có ý kiến nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà thì thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kiều N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kiều N được ly hôn với ông Bùi Khánh H.
- - Về con chung: Giao cháu Bùi Yến T, sinh ngày 17/01/2010 và cháu Bùi Khánh M, sinh ngày 17/08/2011 cho ông Bùi Khánh H được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Tạm thời bà Lê Thị Kiều N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng/2 cháu (500.000 đồng/tháng/cháu) (Năm trăm triệu đồng/tháng/cháu), kể từ ngày 14/8/2023 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà N có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở bà N thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
- - Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kiều N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu số 0007441 ngày 24 tháng 4 năm 2023 (đã nộp xong).
Bà Lê Thị Kiều N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự về việc cấp dưỡng nuôi con (bà N chưa nộp).
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 285/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 285/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kiều Nguyên và Bùi Khánh Huyện ly hôn
