Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/06/2024

V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng.
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà My - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân,

Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:

Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 84/2024/TLST-HNGĐ

ngày 07 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/05/2024, Quyết định hoãn

phiên toà số 53/2024/QÐST-HNGĐ ngày 24/05/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Tuyết H, sinh năm 1973.

    Nơi cư trú: Số 23/3/149 phố Cự Lộc, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà

    Nội - Có mặt tại phiên toà.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1967.

    Nơi cư trú: Số 23/3/149 phố Cự Lộc, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà

    Nội - Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn

- bà Trần Tuyết Hạnh trình bày:

Bà kết hôn với ông Nguyễn Mạnh T trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn

tại Ủy ban nhân dân phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội ngày 09/09/1997.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số 20, ngõ 20 phố Hào Nam, phường Ô

Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội, sau này chuyển về sống tại số 23/3/149 Cự Lộc,

phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hòa thuận

đến tháng 08 năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan

điểm, vợ chồng tìm được tiếng nói chung. Dù bà đã cố gắng nhẫn nhịn để cứu vãn

hôn nhân nhưng không có kết quả. Từ khoảng 8 năm nay, mặc dù vợ chồng vẫn ở

chung nhà nhưng sống ly thân, ai ở phòng riêng của người đó.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có

hạnh phúc nên yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Nguyễn Thuỷ T, sinh ngày

24/07/1998 và Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 27/08/2000.

Hiện nay các con chung của ông bà đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên

bà không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết việc giao nuôi con.

- Về tài sản chung (gồm động sản, bất động sản) và các khoản nợ chung:

Nhà đất của vợ chồng tại số 23/3/149 phố Cự Lộc, phường Thượng Đình, quận

Thanh Xuân, Hà Nội, ông bà đã tặng cho con trai là Nguyễn Mạnh L. Năm 2020,

anh L đã đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, ông bà

không còn tài sản, nhà ở chung nào khác nên nay ly hôn, bà không yêu cầu Toà án

xem xét, giải quyết.

+ Về các khoản nợ chung: Bà và ông Toàn không có khoản nợ chung nào.

- Bị đơn là ông Nguyễn Mạnh T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án

giải quyết vụ án, Toà án đã kết hợp với đại diện tổ dân phố nơi cư trú ghi lời

khai của ông T như sau:

Ông và bà H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong quá

trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách

không hợp nhau. Mặc dù vợ chồng vẫn ở chung một nhà nhưng sinh hoạt riêng.

Nay bà H xin ly hôn ông, quan điểm của ông là không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông và bà H có 02 con chung là Nguyễn Thuỷ T, sinh ngày

24/07/1998 và Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 27/08/2000. Do không đồng ý ly hôn

nên ông không có quan điểm gì về con chung.

- Về tài sản chung (gồm động sản, bất động sản) và các khoản nợ chung:

Ông và bà H không có tài sản, nhà ở chung và nợ chung

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bà H trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu được ly hôn ông T vì xác định tình

cảm vợ chồng không còn; Về con chung, v ề tài sản chung, nhà ở chung, nợ chung:

Bà Hạnh xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân quận Thanh Xuân tham gia phiên toà có

quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, của Hội đồng xét xử, thư ký

Toà án và những người tham gia tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải

quyết: Thẩm phán đã xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn giữa nguyên

đơn - bà Trần Tuyết và bị đơn - ông Nguyễn Mạnh T theo quy định tại khoản 1

Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận Thanh Xuân nên

Toà án nhân dân quận Thanh Xuân thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc tuân theo pháp luật của

thẩm phán: Từ khi thụ lý đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán đã

chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án đã tống đạt

văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân

sự, tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 97, 98, 101, 104 Bộ luật

tố tụng dân sự; Về tổ chức phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ

và hòa giải:Toà án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai

chứng cứ theo quy định của pháp luật; Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã

tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố

tụng dân sự .

Sau khi ra Quyết định xét xử, Tòa án chuyển hồ sơ và Quyết định đưa vụ án

ra xét xử cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng

dân sự và tống đạt hợp lệ đến đương sự;

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Toà án: Tại phiên toà,

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của Bộ luật tố tụng dân

sự về phiên toà sơ thẩm, chấp hành đúng các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành

phần Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.

Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của thư ký quy

định tại điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã

chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố

tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân

sự

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đại diện

Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều

51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết

326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, xử: Chấp

nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Tuyết H đối với ông Nguyễn Mạnh T, xử cho bà

Trần Tuyết H được ly hôn ông Nguyễn Mạnh T; Về con chung: Các con chung của

ông bà đã trưởng thành nên không xem xét việc giao nuôi con; Về tài sản chung,

nhà ở chung: Không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền, về quan hệ pháp luật có tranh chấp: Nguyên đơn - bà Trần

Tuyết H có đơn xin ly hôn đối ông Nguyễn Mạnh T có địa chỉ cư trú tại số 23

ngách 3 ngõ 149 phố Cự Lộc, phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, thành phố

Hà Nội, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39

Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn - ông Nguyễn Mạnh T đã được Toà án

triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử

vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Bà Trần Tuyết H và ông Nguyễn Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội

theo Giấy chứng nhận kết hôn số 82, quyển số 01 ngày 09/09/1997. Đây là hôn

nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số 20, ngõ 20 Hào Nam, phường

Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội sau đó chuyển về số 23/3/149 Cự Lộc, phường

Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến

tháng 08 năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng

quan điểm sống, không có tiếng nói chung.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T có lời khai không đồng ý ly hôn. Tuy

nhiên, Toà án đã triệu tập nhiều lần để tiến hành thủ tục hoà giải giữa các bên

đương sự nhưng ông T không đến và cũng không có bất cứ động thái gì giúp cho

quan hệ vợ chồng được cải thiện.

Tiến hành xác minh tại địa phương nơi ông bà cư trú xác định được, mâu

thuẫn của ông bà đã kéo dài nhiều năm, tổ dân phố đã tiến hành hoà giải nhiều lần

nhưng không có kết quả.

Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng

cứ do Tòa án thu thập, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy tình

trạng hôn nhân của bà H, ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng một

gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn

nhân và gia đình năm 2014, việc giải quyết cho ông bà ly hôn theo yêu cầu của

nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung: Ông bà xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thuỷ

T, sinh ngày 24/07/1998 và Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 27/08/2000. Hiện nay các

con chung của ông bà đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên Hội đồng xét xử

không xem xét, giải quyết việc giao nuôi con.

Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản) chung: Ông bà xác nhận

vợ chồng không có tài sản chung, nhà ở chung và không yêu cầu giải quyết nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông bà xác nhận vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu

giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều

24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ

ban thường vụ Quốc hội; Mục 1.1 khoản 1 Phần II Danh mục mức án phí, lệ phí

Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn

sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy

định tại các Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm

2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/

UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Mục 1.1 khoản 1

Phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết

326/UBTVQH14;

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Tuyết H đối với ông Nguyễn

Mạnh T.

Xử cho bà Trần Tuyết H được ly hôn ông Nguyễn Mạnh T

[2]. Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Thuỷ T, sinh ngày

24/07/1998 và Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 27/08/2000.

Hiện nay các con chung của ông bà đã trưởng thành nên Tòa án không xem

xét việc giao nuôi con.

[3]. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản chung), các khoản nợ

chung: Ông bà xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không

xem xét

[4]. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ

vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Hạnh đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm

ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012923 ngày 07/03/2024 của Chi cục Thi hành án

dân sự quận Thanh Xuân, Hà Nội. Bà H đã nộp đủ án phí.

Trong trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi

hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án sơ thẩm

Nơi nhận :

  • - Người tham gia tố tụng
  • - VKSND Q. Thanh Xuân
  • - TAND T.P Hà Nội
  • - VKSND T.P Hà Nội
  • - Chi cục THADS Q.Thanh Xuân
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Diệu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 245/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn do bạo lực gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger