TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/DSST
Ngày: 10/9/2024
“ V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các hội thẩm nhân dân :
- Bà Nguyễn Thị Vân
- Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Qui Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/TLST-DS ngày 07/3/2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 272/2024/QĐXX-ST ngày 08/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 231/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P (H2)
- Bị đơn: Ông Thái Thành S, sinh năm: 1968; Địa chỉ: C T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
Địa chỉ: B N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Cai Văn T1-Giám đốc chi nhánh B
Địa chỉ: 8 M, TP ., tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo uỷ quyền, tham gia tố tụng: Chị Đào Thị X, sinh năm: 1990; Địa chỉ: 8 M, TP ., tỉnh Bình Định.
(Theo văn bản uỷ quyền số: 01/2024/UQ-XLN ngày 05/01/2024) (có mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP P (H2) - Chị Đào Thị X trình bày:
Ngân hàng TMCP P (sau đây viết tắt là Ngân hàng H2) - Chi nhánh B đã cho ông Thái Thành S vay tiền theo Hợp đồng tín dụng sau:
Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 25636/19MN/HĐTD ngày 22/07/2019. Số tiền mở hạn mức tín dụng là: 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn vay là: 48 tháng (từ ngày 22/07/2019 đến ngày 22/07/2023). Phương thức trả nợ: Trả gốc và trả lãi đều hàng tháng, Lãi suất cho vay được quy định tại giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/07/2019. Mục đích vay: Cho vay mua xe - Mua xe ô tô TOYOTA VIOS, màu trắng, 05 chỗ ngồi, mới 100%, lắp ráp tại Việt Nam. Hình thức cho vay: Vay từng lần, Ngân hàng H2 chuyển tiền cho Công ty TNHH một thành viên T2, số tài khoản: 4011101116006 tại Ngân hàng TMCP Q - CN Bình Định.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Thái Thành S đã thế chấp cho Ngân hàng H2 một xe ô tô TOYOTA VIOS, Số khung RL4B23F38K5069578, Số máy 2NRX464227, Biển kiểm soát 77A-137.96, đứng tên Ông Thái Thành S (theo Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị phương tiện vận tải số: 20392/19MN/HĐBĐ/PL 01 ngày 23/07/2019), đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Do ông Thái Thành S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết. Cụ thể khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho H2 kể từ kỳ trả nợ từ ngày 23/08/2019, ngoài ra khoản vay của khách hàng theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/07/2019 đã đến hạn thanh toán gốc hàng tháng từ ngày 23/08/2019. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc, yêu cầu trả nợ nhưng ông Thái Thành S vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình, hiện toàn bộ khoản vay đã chuyển nợ quá hạn.
Tính đến ngày xét xử (ngày 10/9/2024) ông Thái Thành S còn nợ Ngân hàng H2 số tiền là: 653.033.464 đồng (S1 trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó, N gốc là: 342.709.976 đồng; Lãi trong hạn: 82.394.581 đồng; và Lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi: 227.928.907 đồng (lãi tính đến ngày 10/9/2024).
Nay Ngân hàng H2 yêu cầu:
+ Ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng H2 số tiền tạm tính đến nay (ngày 10/9/2024) là: 653.033.464 đồng (Sáu trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó, nợ gốc là: 342.709.976 đồng, nợ lãi trong hạn là: 82.394.581 đồng, lãi quá hạn đối với quá hạn gốc và lãi chậm trả lãi là: 227.928.907 đồng (tiền lãi tính đến hết ngày 10/9/2024).
2
+ Buộc ông Thái Thành S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng H2 số tiền lãi phát sinh ngày 11/9/2024 cho đến khi ông Thái Thành S thanh toán dứt điểm nợ vay tại Ngân hàng H2, mức lãi suất được tính theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết ngày 23/7/2024 giữa Ngân hàng H2 và ông Thái Thành S.
+ Trong trường hợp kể từ ngày Bản án/ Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà ông Thái Thành S không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng H2, thì Ngân hàng H2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa ông S và Ngân hàng H2 để thu hồi khoản nợ vay.
+ Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản: Ngân hàng H2 đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tài sản là 3.000.000 (ba triệu) đồng. Yêu cầu ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng H2.
Bị đơn ông Thái Thành S trình tại bản khai ngày 02/4/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng như sau:
Tôi hoàn toàn thống nhất lời trình bày của đại diện Ngân hàng H2, ngày 22/07/2019, tôi có vay của Ngân hàng H2 số tiền là 350.000.000đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), theo hợp đồng số: 25636/19MN/HĐTD, mục đích vay tiền để mua xe ô tô. Về lãi suất, thời gian vay, hình thức thanh toán, hình thức chuyển tiền (giải ngân), hợp đồng thế chấp tài sản như lời trình bày trên của đại diện Ngân hàng H3 là đúng.
Sau khi tôi mua xe, kinh doanh không hiệu quả, gặp đợt dịch COVID nên ông có cho thuê xe tự lái. Đến khoảng cuối năm 2019, tôi cho anh Trần Thanh H, sinh năm: 1975 (địa chỉ ở đâu tôi không biết) thuê xe 600.000đồng/ngày, tôi đã nhận của anh H được 1.200.000đồng. Khi thuê xe, hai bên có lập hợp đồng cho thuê xe, nhưng hiện nay hợp đồng này tôi đã làm mất, việc tôi cho thuê xe, tôi không báo cho Ngân hàng H2 biết. Sau khi anh H thuê xe được 01 tháng thì anh H không đem xe trả cho tôi, tôi đã nhiều lần liên lạc cho anh H nhưng không được. Do đó, khoảng cuối năm 2019, đầu năm 2020 tôi đã làm đơn báo cáo mất xe và gởi đến Công an thành phố Q, đơn tôi gởi trực tiếp tại Công an T. Nhưng đến nay Công an T không trả lời cho tôi biết. Theo tôi tìm hiểu thì hiện nay chiếc xe ô tô này đã bị đưa sang Campuchia bán.
Nay tôi thống nhất còn nợ Ngân hàng H2 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28/02/2024 là: 611.768.215 đồng (Sáu trăm mười một triệu bảy trăm sáu mươi tám ngàn hai trăm mười lăm đồng). Trong đó, nợ gốc là: 342.709.976 đồng, nợ lãi trong hạn là: 82.394.581 đồng và nợ lãi quá hạn là: 186.663.658 đồng (tiền lãi tính đến ngày 28/02/2024).
Nay tôi xin trả dần cho Ngân hàng H2 số tiền nói trên mỗi tháng 1.000.000đồng (một triệu đồng) cho đến khi hết nợ.
3
+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự : Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật TTDS. Bị đơn ông Thái Thành S không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự được quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật TTDS.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các Điều 299, 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng; Đề nghị HĐXX:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P. Buộc ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền là 653.033.464 đồng, trong đó vốn gốc là: 342.709.976 đồng, lãi trong hạn là: 82.394.581 đồng và lãi quá hạn là: 227.928.907đồng (lãi tính đết hết ngày 10/9/2024).
- - Ông S còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo quy định tại hợp đồng tín dụng số: 25636/19MN/HĐTD ngày 22/7/2019; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/7/2019 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP P và ông Thái Thành S.
- - Trong trường hợp kể từ ngày Bản án/ Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà ông Thái Thành S không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng H2, thì Ngân hàng H2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa ông S và Ngân hàng H2 để thu hồi khoản nợ vay.
- - Về án phí: Ông Thái Thành S phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào nội dung tranh chấp của các đương sự, HĐXX xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn. Bị đơn ông Thái Thành S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
4
vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa Ngân hàng H2 và ông Thái Thành S có ký kết hợp đồng tín dụng số: 25636/19MN/HĐTD ngày 22/7/2019. Số tiền mở hạn mức tín dụng là: 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn vay là: 48 tháng (từ ngày 22/07/2019 đến ngày 22/07/2023). Phương thức trả nợ: Trả gốc và trả lãi đều hàng tháng; Lãi suất vay được quy định tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/07/2019.
Mục đích vay: Cho vay mua xe - Mua xe ô tô TOYOTA VIOS, màu trắng, 05 chỗ ngồi, mới 100%, lắp ráp tại Việt Nam. Hình thức cho vay: Vay từng lần, Ngân hàng H2 chuyển tiền cho Công ty TNHH một thành viên T2, số tài khoản: 4011101116006 tại Ngân hàng TMCP Q - CN Bình Định.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng H2 đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông S không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày xét xử (ngày 10/9/2024) ông S còn nợ Ngân hàng H2 số tiền là: 653.033.464 (Sáu trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn) đồng. Trong đó, số tiền gốc là: 342.710.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 82.450.747 đồng; lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 227.823.710 đồng (lãi tính đến ngày 10/9/2024).
Nay Ngân hàng H2 yêu cầu ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ nói trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả hết nợ, lãi suất được tính theo quy định tại hợp đồng tín dụng số: 25636/19MN/HĐTD ngày 22/7/2019; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/07/2019 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP P và ông Thái Thành S.
Do bị đơn, ông Thái Thành S đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên Ngân hàng H2 đã khởi kiện. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Còn bị đơn ông Thái Thành S thống nhất hiện nay còn nợ Ngân hàng H2, nhưng ông cho rằng hiện nay ông khó khăn, không có việc làm ổn định nên xin được trả dần số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng H2, mỗi tháng trả 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi hết nợ. Lời khai của ông không được nguyên đơn chấp nhận và không phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX khônh chấp nhận.
[3] Đối với chiếc xe ô tô TOYOTA VIOS, Số khung RL4B23F38K5069578, Số máy 2NRX464227, Biển kiểm soát 77A-137.96, do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 16/7/2019 đứng tên ông Thái Thành S.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 6 năm 2024, ông S khai: Sau khi ông mua xe ông có cho anh Trần Thanh H thuê lại xe, đến khoảng cuối năm 2019, đầu
5
năm 2020 ông không liên lạc được cho anh Trần Thanh H thì ông đã làm đơn tố cáo gởi đến Công an thành phố Q, nhưng đến nay Công an thành phố Q vẫn không giải quyết cho ông, ông cho rằng chiếc xe hiện nay đã mất.
Tuy nhiên tại văn bản số: 1002/CSĐT (ĐTTH) ngày 04/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã trả lời như sau: Ngày 15/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q có nhận được đơn tố giác đề ngày 28/3/2024 của ông Thái Thành S, với nội dung ông S tố cáo ông Trần Thanh H (sinh năm: 1975: Quê quán: Thị xã H, tỉnh Bình Định) có dấu hiệu “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là xe ô tô TOYOTA VIOS, Số khung RL4B23F38K5069578, Số máy 2NRX464227, Biển kiểm soát 77A-137.96 thông qua việc cho thuê xe sau đó chiếm đoạt từ năm 2019 cho đến nay. Ông H đã cắt đứt liên lạc và không rõ ở đâu. Sau khi tiếp nhận đơn của ông, Công an thành phố Q đã nhiều lần mời ông đến để xác minh làm rõ nội dung tố giác nhưng ông S không chấp hành, không đến Công an thành phố Q để làm việc.
Xét lời khai của ông S tại Toà án và văn bản trả lời của Công an thành phố Q có sự mâu thuẫn. Tại Toà ông S khai báo khoảng cuối năm 2019, đầu năm 2020 ông đã làm đơn tố cáo gởi đến Công an thành phố Q, nhưng văn bản trả lời của Công an thành phố Q là nhận được đơn tố cáo của ông vào ngày 15/4/2024. Như vậy, sau khi Toà án thụ lý vụ án, ông đã đến Toà án làm việc thì ông mới làm đơn tố cáo gởi Công an thành phố Q.
Mặt khác, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp tài sản số: 20392/19MN/HĐBĐ ngày 23/7/2019 đã được ký kết giữa ông và Ngân hàng H2 có quy định: “Bên thế chấp cam kết tài sản thế chấp (TSTC) nói trên tại thời điểm ký thế chấp và trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng này, bên thế chấp không thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan đến TSTC trừ khi được sự chấp thuận bằng văn bản của H2” .
Do đó, HĐXX không chấp nhận lời khai của ông S là hiện nay chiếc xe đã mất. Việc ông S cho anh H thuê xe khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản của Ngân hàng H2 là trái quy định pháp luật.
Chiếc xe ô tô TOYOTA VIOS, Số khung RL4B23F38K5069578, Số máy 2NRX464227, Biển kiểm soát 77A-137.96, do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 16/7/2019 đứng tên ông Thái Thành S là tài sản thế chấp (theo Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị phương tiện vận tải số: 20392/19MN/HĐBĐ/PL 01 ngày 23/07/2019). Nếu trong trường hợp ông S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng H2 thì Ngân hàng H2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có quyền kê biên xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì ông Thái Thành S phải chịu
6
30.121.000 (Ba mươi triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại cho Ngân hàng H2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.253.000 (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000562 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
[5] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã tiến hành xem xét, thẩm định tài sản là 3.000.000 (ba triệu) đồng đã chi xong. Ngân hàng H2 đã tạm ứng nên ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng H2 3.000.000 (ba triệu) đồng.
[6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H2 là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử :
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố P.
1.1. Buộc ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền là: 653.033.464 (S1 trăm năm mươi ba triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi bốn) đồng. Trong đó, số tiền gốc là: 342.710.000 đồng; tiền lãi trong hạn là: 82.450.747 đồng; lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 227.823.710 đồng (lãi tính đến ngày 10/9/2024).
1.2. Ông Thái Thành S còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi ông Thái Thành S trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP P, mức lãi suất được tính theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 25636/19MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/07/2019 được ký kết giữa Ngân hàng và ông S.
1.3. Trường hợp ông Thái Thành S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị
7
phương tiện vận tải số: 20392/19MN/HĐBĐ/PL 01 ngày 23/07/2019 sẽ được xử lý thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
1.4. Ngân hàng TMCP P có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Thái Thành S các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị phương tiện vận tải số: 20392/19MN/HĐBĐ/PL 01 ngày 23/07/2019 ngay sau khi ông Thái Thành S hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng.
2- Án phí Dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông Thái Thành S phải chịu 30.121.000 (Ba mươi triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. H1 lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.253.000 (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi ba nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000562 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
3- Về chi phí tố tụng khác: Buộc ông Thái Thành S phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP P chi phí xem xét, thẩm định tài sản là 3.000.000 (ba triệu) đồng.
4- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
5.1. Trường hợp bán án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |
8
Hội thẩm nhân dân Nguyễn Thị Vn Nguyễn Đình Thọ | Thẩm phán- chủ toạ phiên toà Huỳnh Thị Ngọc Lan |
9
10
11
12
Bản án số 245/2024/DSST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 245/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG H - THÁI THÀNH S
