Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 07/5/2024.

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Sang.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.
  2. Bà Vũ Thị Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 557/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Trọng N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: đường C, Phường H, Quận G, TP.HCM. (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: đường C Phường H, Quận 6, TP.HCM (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Anh Trần Trọng N trình bày: Anh Trần Trọng N và Chị Lê Thị Kim T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 64, quyển số 01/2015 ngày 06/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, vợ chồng không có con chung.

Trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, Chị Lê Thị Kim T bỏ nhà đi từ năm 2017 cho đến nay không rõ tung tích, không liên lạc với ai trong gia đình, vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung.

Từ khi Chị Lê Thị Kim T bỏ đi, Anh Trần Trọng N đã cố gắng tìm kiếm tin tức nhưng vẫn không có tin tức gì về chị. Do đó Anh Trần Trọng N đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Chị Lê Thị Kim T mất tích để xin ly hôn.

Ngày 14/4/2023 Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 39/2023/QĐST-DS tuyên bố Chị Lê Thị Kim T mất tích.

Kể từ khi có Quyết định của Tòa án tuyên bố Chị Lê Thị Kim T mất tích đến nay Anh Trần Trọng N cũng không có bất kỳ tin tức gì về Chị Lê Thị Kim T. Vì vậy, Anh Trần Trọng N nộp đơn ly hôn yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau đây:

  • Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Trọng N đề nghị được ly hôn với Chị Lê Thị Kim T.
  • Về con chung: Không có.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, Anh Trần Trọng N không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Bị đơn: Chị Lê Thị Kim T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không lý do nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai đề nghị giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Bị đơn Chị Lê Thị Kim T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như trình tự thủ tục tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, xét thấy các bên đã mâu thuẫn trầm trọng, các bên không còn tình cảm với nhau, không muốn tiếp tục chung sống, trường hợp vợ hoặc chồng bị Toà án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn, nên căn cứ theo Điều 28, 35, 40, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, về con chung không có, về tài sản chung, nợ chung không có, nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 6 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 14/4/2023 Tòa án Nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 39/2023/QĐST-DS tuyên bố Chị Lê Thị Kim T mất tích, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo trình tự luật định tại nơi cư trú sau cùng của Chị Lê Thị Kim T trong vụ án ly hôn để triệu tập bị đơn đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Trọng N và Chị Lê Thị Kim T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyển số 01/2015 ngày 06/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

- Về nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn, sau khi kết hôn Anh Trần Trọng N vì quá đam mê công việc, không quan tâm nhiều đến Chị Lê Thị Kim T, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, xảy ra nhiều mâu thuẫn, nhiều ý kiến bất đồng, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, đến năm 2017 thì Chị Lê Thị Kim T bỏ nhà đi không tung tích, không quan tâm chăm sóc gia đình. Nay Anh Trần Trọng N xác định không còn tình cảm với Chị Lê Thị Kim T, nên Anh Trần Trọng N yêu cầu được ly hôn với Chị Lê Thị Kim T.

Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ sống chung với nhau. Đối với quan hệ vợ chồng thì mâu thuẫn giữa hai người đã gay gắt, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 cho đến nay, vì vậy yêu cầu được ly hôn của Anh Trần Trọng N có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, thì Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[3]. Về án phí: Anh Trần Trọng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Trần Trọng N.

    Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Trọng N được ly hôn với Chị Lê Thị Kim T.

  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Trọng N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64, quyển số 01/2015 ngày 06/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Trọng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0038373 ngày 05/10/2023 của Chi Cục Thi hành án Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Trần Trọng N đã đóng đủ tiền án phí.
  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 6;
  • - Chi cục Thi hành án Quận 6;
  • - UBND P.7, Q.6;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thanh Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2023/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 245/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông Trần Trọng N với bà Lê Thị Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger