|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 245/2025/HS-PT Ngày: 15 - 4 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Đức Toàn |
| Các Thẩm phán: | Bà Bùi Thị Thu |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 113/2025/TLPT- HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Hữu V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Hữu V (Dư), sinh ngày 01/01/1980 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Lê Thị Hồng N; vợ: Hồ Thị Kim D, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Tạm giam Công an tỉnh A. (có mặt)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Ánh T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/07/2024, do mâu thuẫn từ trước về việc vay mượn tiền, Bùi Hữu V (D1) điều khiển xe mô tô biển số 83P4 - 210.97, cầm theo can xăng (loại can bằng mũ dung tích 10 lít) đựng khoảng 04 lít xăng có pha với nước để đầy can và hộp quẹt gas đến nhà Nguyễn Thị T1 ngụ ấp V, xã V, T. V cầm can xăng đi đến chỗ T1 đang đứng ở bậc thềm trước cửa nhà, kêu The trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho V, nhưng T1 không đồng ý. Lúc này, V lấy can xăng mở nắp, tự đổ xăng vào người của V và định đổ xăng vào người T1 thì T1 bỏ chạy, V đuổi theo khoảng 06m thì đuổi kịp, Vũ tạt xăng vào người The, được Bùi Quốc H (con của V) chạy đến can ngăn, V lấy quẹt gas để trong túi quần bên phải ra, bật lửa nhưng do quẹt gas vẫn còn nguyên trong bọc nên không cháy. Cùng lúc này, ông Võ Công H1 đến can ngăn, giật lấy can đựng xăng (còn khoảng 03 lít) đưa lại cho H ném bỏ xuống kênh trước cửa nhà của T1. Sau đó, V bỏ về rồi đến Công an xã V đầu thú.
Ngày 23/9/2024, V bị khởi tố, điều tra.
* Kết luận giám định số 4499/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Mẫu M, M2 được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần X.
- - Mẫu M3, M4 được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần X, D2 và các loại dung môi dễ cháy thường gặp. (Bút lục số 57).
* Kết luận giám định số 1107/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:
Trích xuất 28 ảnh từ dữ liệu 05 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Hữu V 09 (C1) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/9/2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/01/2025, bị cáo Bùi Hữu V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
Bị cáo Bùi Hữu V giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đồng ý về tội danh, tuy nhiên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là nặng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Đề nghị HĐXX xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2
2. Phần tranh luận:
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
2.1.2. Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ chứng cứ và tuyên hình phạt 09 (C1) năm tù về tội “Giết người” đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Bùi Hữu V.
2.2. Phần tranh tụng của bị cáo Bùi Hữu V và người bào chữa cho bị cáo Bùi Hữu V:
- Luật sư Lê Thị Ánh T bào chữa cho bị cáo V trình bày: Đồng ý về tội danh của bị cáo. Còn về hình phạt, mức án mà bị cáo phải chịu là quá cao. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhe như: đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; lần đầu phạm tội; bản thân bị cáo và mẹ bị cáo cũng có nhiều đóng góp tại địa phương và được UBND xã xác nhận và bị hại cũng có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo Bùi Hữu V đồng ý lời bào chữa và không bổ sung gì.
2.3. Đại diện Viện kiểm sát, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình và kính mong HĐXX xem xét, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Bùi Hữu V thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời
3
khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
[2.1] Ngày 20/7/2024, do mâu thuẫn về việc vay tiền, đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa bị cáo Bùi Hữu V và bị hại là bà Nguyễn Thị T1, nên bị cáo V đã có hành vi tạt xăng vào người bị hại The để đốt bị hại, nhưng khi bị cáo dùng quẹt gas bật lửa thì quẹt gas vẫn còn trong bọc nên không cháy, cùng lúc này có người tới can ngăn nên bị cáo không đốt được bị hại.
[2.2] Bị cáo Bùi Hữu V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng xăng tạt lên người bị hại, quẹt gas châm lửa nhằm đốt bị hại có thể tước đoạt tính mạng của bị hại nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị hại không chết là ngoài ý chí chủ của bị cáo, do được căn ngăn kịp thời.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, có nguy cơ xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Chỉ xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân nhưng bị cáo chuẩn bị xăng, quẹt gas, truy đuổi bị hại để tạt xăng nhằm đốt bị hại, thể hiện tính chất côn đồ khi thực hiện hành vi phạm tội.
[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Hữu V phạm tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Hữu V
[3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi của bị cáo là phạm tội chưa đạt. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo V: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bản thân bị cáo và mẹ bị cáo có nhiều đóng góp tại địa phương và được UBND xã xác nhận và bị hại cũng có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo V 09 (chín) năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
[3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Hữu V; giữ nguyên phần hình phạt tại bản án sơ thẩm đối với bị cáo Bùi Hữu V.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không
4
bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Bùi Hữu V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356, của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hữu V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Hữu V 09 (C1) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/9/2024).
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Hữu V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Cao Văn T2 – Bùi Thị Thu Vũ Đức T3
6
Bản án số 245/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)
- Số bản án: 245/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hữu V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
