|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC |
Bản án số: 245/2024/HSST
Ngày: 28/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hành.
Ông Nguyễn Đức Thành.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì:
Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 243/2024/TLST-HS ngày 14/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Minh Đ - sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Lang thang không nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Giới tính: nam, Con ông: Hoàng Văn B, Con bà: Nguyễn Thị D; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. D1 chỉ bản số 553 ngày 12/9/2024 Công an huyện T lập; Tiền án: 01 tiền án (chưa xóa án tích): tiền sự: không. Ngày 08/11/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 298A/2023/HSST, chưa xóa án tích). Bị cáo đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam ngày 04/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Lương Văn T - Sinh năm 1992.
Nơi thường trú: Tập thể 105 Phân Lân, TT V, T, Hà Nội. Vắng mặt phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, Hoàng Minh Đ một mình đi bộ đến khu vực ngõ A, Khu tập thể A P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội xem ai sơ hở để trộm cắp. Do trước đây anh Lương Văn T (em trai anh Lương Xuân C, Sinh năm: 1987, HKTT: Kim Bồng, K, Ứ, Hà Nội) bị mất xe máy nên anh Nguyễn Xuân D2 (Sinh năm: 1979, HKTT: số A, ngõ A đường P, thị trấn V, T, Hà Nội), anh Dương Chí H (Sinh năm: 1972, HKTT: Số I, ngách C, ngõ A P, thị trấn V, T, Hà Nội), anh C cùng người dân xung quanh nghi ngờ Đ là đối tượng đã trộm cắp chiếc xe BKS: 29Y3-508.55 của anh T nên đã gọi hỏi Đ, nhưng Đ không khai nhận, anh C đã báo Công an thị trấn V đến và đưa Đ về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan Công an thị trấn V, huyện T Hoàng Minh Đ đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 00giờ 30 phút ngày 27/8/2024, Hoàng Minh Đ đi bộ lang thang một mình với mục đích xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa số nhà A, ngách A, ngõ A, Khu tập thể 105 P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội, Đ phát hiện thấy 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS: 29Y3 – 508.55 của anh Lương Văn T (Sinh năm: 1992, HKTT: Kim Bồng, K, Ứ, Hà Nội) đầu xe hướng vào trong, đuôi xe hướng ra ngoài, không khoá cổ, khoá càng, không ai trông giữ, dựng bên cạnh 2, 3 chiếc xe máy khác nên Đ đã trộm cắp chiếc xe trên. Do ngách nhỏ không quay đầu xe được, Đ liền dắt lùi chiếc xe một đoạn ra chỗ rộng rồi quay đầu xe, dùng tay giật dây điện ổ khoá xe rồi đấu điện hai đầu dây vào với nhau. Khi thấy đèn điện xe bật sáng, Đ liền lên xe nổ máy rồi điều khiển xe phóng thẳng đến khu vực vườn hoa H, quận H, Hà Nội nằm ngủ đợi đến sáng để xem ai mua thì bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Đ ngủ dậy và đem chiếc xe Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS: 29Y3 – 508.55 trộm cắp trên đến gần quán nước khu vực cầu Đ, đường Q, H, Hà Nội bán cho một người không quen biết với giá 1.000.000 đồng, số tiền này Đ đã tiêu xài cá nhân và chơi điện tử hết.
Cùng ngày 04/9/2024, anh Lương Văn T đã đến Công an thị trấn V, huyện T trình báo. Công an thị trấn V đã rà soát hiện trường và tạm giữ của anh Lương Văn T: 01 USB bên trong có chứa 01 file video hình ảnh ghi lại nội dung sự việc Đ đã trộm cắp chiếc xe trên.
Qua rà soát hiện chưa thu giữ được chiếc xe Honda Wave BKS: 29Y3 – 508.55 bị trộm cắp.
Ngày 05/09/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe bị trộm cắp trên. Tại Bản kết luân định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
“01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29Y3-508.55, đã qua sử dụng có giá trị: 9.138.000 đồng (Chín triệu, một trăm, ba mươi tám nghìn đồng)”
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Đ phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 29Y3 – 508.55 của Đ đã trộm cắp, khi mua Đ chỉ nói xe không giấy tờ, không phải xe do trộm cắp mà có. Quá trình điều tra xác minh chưa làm rõ được đối tượng liên quan trên nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 USB bên trong chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Anh Lương Văn T yêu cầu Hoàng Minh Đ phải bồi thường cho anh T số tiền 9.138.000 đồng đúng giá trị chiếc xe đã định giá. Ngoài ra, anh T không yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Tại bản cáo trạng: số 238/CT-VKS-TT ngày 11/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Hoàng Minh Đức về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 -Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Hoàng Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng.
Người bị hại là anh Lương Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu tại cơ quan điều tra, bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 9.138.000 đồng đúng giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc BKS: 29Y3- 508.55 đã định giá, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024.
Về dân sự: người bị hại anh Lương Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 9.138.000 đồng. Nguyện vọng của người bị hại là chính đáng, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì chấp nhận yêu cầu của người bị hại.
Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, đang bị tạm giam, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB bên trong có chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/8/2024, tại trước cửa số nhà A, ngách A, ngõ A, Khu tập thể 105 P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội, Hoàng Minh Đ trộm cắp của anh Lương Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc BKS: 29Y3-508.55, có trị giá 9.138.000đồng. Đối chiếu pháp luật hình sự Hoàng Minh Đ đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", được quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
[2] Như vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Hoàng Minh Đ đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: trong vụ án này bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích, do vậy lần này bị cáo phạm tội là tái phạm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đầu thú, khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Về phần dân sự: Người bị hại anh Lương Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 9.138.000đồng, đây là yêu cầu chính đáng của anh T. Do vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền này.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB bên trong có chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc là tài liệu chứng cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí.
Bị cáo, người bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm h, khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/09/2024.
Về dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lương Văn T số tiền là 9.138.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố Hình sự năm 2015.
Tiếp tục lưu giữ 01 USB bên trong có chứa file video hình ảnh nội dung vụ việc trong hồ sơ vụ án.
Án phí: áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, 22, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 456.900 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về việc thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 245/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 245/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
