TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 245/2024/HS-ST Ngày: 11-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phương Ly
- Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 239/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Đình Đ, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1995, tại: tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn Đ, xã M, thành phố N (huyện M cũ), tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình S và bà Trần Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 07/5/2024, chuyển tạm giam ngày 16/05/2024. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: anh Trần Công Anh T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số B T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Mai Đình Đ thường xuyên đến cửa hàng bán vật liệu cơ khí số B đường T, phường C, thành phố N nên quen biết anh Trần Công Anh T, sinh năm 1987 là chủ cửa hàng. Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 06/5/2024, bị cáo Đ đến cửa hàng mua mũi khoan sắt và trả bằng tiền mặt. Lúc này do đang thiếu tiền trả nợ và đánh bạc online nên bị cáo Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T bằng thủ đoạn nói dối là phải chuyển khoản ngân hàng để trả tiền mua hàng và công thợ, nhưng do tài khoản ngân hàng của bị cáo Đ đang bảo trì đến khoảng 17 giờ cùng ngày sẽ hết bảo trì, hiện Đ đang cần chuyển số tiền 11.900.000 đồng qua tài khoản ngân hàng để trả tiền mua nhôm và nhờ anh T chuyển hộ, khi tài khoản ngân hàng hết bảo trì sẽ chuyển khoản trả lại, Đ sẽ ngồi tại cửa hàng để đợi đến khi hết bảo trì sẽ chuyển tiền trả lại. Với lý do tương tự, bị cáo Đ tiếp tục nói dối anh T 3 lần sau đó để lấy tiền. Do tin tưởng, anh T đã đồng ý và chuyển tiền từ tài khoản số 13088012329999 của mình tại Ngân hàng TMCP H1 (Ngân hàng M) vào tài khoản số 0823316283 của bị cáo Đăng mở tại Ngân hàng TMCP Q (M1) 04 lần cụ thể:
- Lần 1: anh T chuyển khoản cho bị cáo Đ 11.900.000 đồng.
- Lần 2: anh T chuyển khoản cho bị cáo Đ 13.000.000 đồng.
- Lần 3: anh T chuyển khoản cho bị cáo Đ 25.000.000 đồng.
- Lần 4: anh T chuyển khoản cho bị cáo Đ 10.000.000 đồng.
Tổng số tiền anh T đã chuyển khoản cho bị cáo Đ là 59.900.000 (năm chín triệu chín trăm nghìn) đồng.
Ngay sau khi nhận được tiền từ anh T, bị cáo Đ chuyển tiền đến các tài khoản khác nhau, như sau:
- Lần 1: Đ chuyển 11.900.000 đồng đến tài khoản số 3229631949127 mở tại Ngân hàng M1, đứng tên PHAM THANH HUY HOANG.
- Lần 2: Đ chuyển 13.000.000 đồng đến tài khoản số 7979222225555 mở tại Ngân hàng M1, đứng tên DINH HUU KHANG
- Lần 3: Đăng chuyển 25.000.000 đồng đến tài khoản số 3229631949127 mở tại Ngân hàng M1, đứng tên PHAM THANH HUY HOANG.
- Lần 4: Đ chuyển 10.000.000 đồng đến tài khoản số 00346907257 mở tại Ngân hàng M1, đứng tên HUYNH THỊ TRUC PHUONG.
Số tiền chuyển đến các tài khoản trên bị cáo Đ sử dụng để đánh bạc ở trang Web WWW.B52.CLUP, tuy nhiên sau khi nạp tiền vào tài khoản game của mình thì tài khoản bị khóa nên không thể đánh bạc được. Bị cáo Đ đã lập tài khoản đánh bạc khác (không nhớ rõ tài khoản và mật khẩu vì khi lập xong tài khoản thì bị cáo Đ đã ấn lưu trên điện thoại và khi đăng nhập vào chơi sẽ tự động điền tài khoản, mật khẩu). Lần thứ 4 sau khi chuyển 10.000.000 đồng vào tài khoản HUYNH THI TRUC PHUONG mới thành công. Sau khi nạp tiền vào tài khoản game của mình, bị cáo Đ đánh bạc thua hết số tiền này và xóa luôn tài khoản game của mình, không nhớ tài khoản và mật khẩu game.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh T yêu cầu bị cáo Đ trả tiền. Bị cáo Đ thừa nhận với anh T là chỉ có một tài khoản ngân hàng và không bị bảo trì, đã nói dối anh để lấy tiền chơi game và không có khả năng hoàn trả 59.900.000 đồng. Anh T đưa bị cáo Đ đến Công an phường C, thành phố N để trình báo. Tại cơ quan Công an, bị cáo Đ đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 đã sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra ông Mai Đình S sinh năm 1970, bà Trần Thị H sinh năm 1974 (bố mẹ đẻ của bị cáo Đ) trình bày: Chiều ngày 06/5/2024, ông S đưa cho bị cáo Đ 300.000 đồng để lấy máy mài sửa tại một cửa hàng ở đường T, phường C, thành phố N, không giao Đ mua nhôm và trả tiền công nợ của xưởng cơ khí của mình.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N gửi công văn đến Ngân hàng TMCP Q chi nhánh N để xác định việc bảo trì hệ thống giao dịch, được trả lời khoảng thời gian từ 13 giờ đến 19 giờ ngày 06/5/2024 Ngân hàng TMCP Q không thực hiện bảo trì hệ thống giao dịch.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Mai Đình Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về vấn đề dân sự: Quá trình điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo Mai Đình Đ đã tác động để bà Trần Thị H (mẹ đẻ của bị cáo Đ) bồi thường cho anh Trần Công Anh T số tiền 59.900.000 đồng. Anh T đã nhận và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Mai Đình Đ.
Bản Cáo trạng số 241/CT-VKS-TPNĐ ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Mai Đình Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với hành vi có dấu hiệu đánh bạc của bị cáo Mai Đình Đ, Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh, tuy nhiên chưa đủ căn cứ xác định, nên ngày 28/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục, xác minh làm rõ.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo Mai Đình Đ thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Trần Công Anh T như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác nhận đã tác động để gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- - Tuyên bố bị cáo Mai Đình Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vấn đề dân sự: Bị cáo Mai Đình Đ đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 59.900.000 đồng cho người bị hại là anh Trần Công Anh T. Anh Trần Công Anh T không có ý kiến gì, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, dung lượng 64GB, bên trong điện thoại có số IMEI: 35922806646617 (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện bị cáo Mai Đình Đ sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt được nên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Mai Đình Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị hại là anh Trần Công Anh T vắng mặt tại phiên toà nên không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Đình Đ và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
- Về người tham gia tố tụng và sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại là anh Trần Công Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra, truy tố anh T đều đã có lời khai do đó sự vắng mặt của anh T không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Mai Đình Đ phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Biên bản nhận dạng, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng từ 15 giờ 00 phút đến 20 giờ 00 phút ngày 06/5/2024, bị cáo Mai Đình Đ đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, nói dối với anh Trần Công Anh T là phải chuyển tiền để trả tiền mua hàng và công thợ nhưng do tài khoản ngân hàng của bị cáo đang bảo trì đến khoảng 17 giờ cùng ngày sẽ hết bảo trì, nên nhờ anh T chuyển khoản 04 lần với tổng số tiền là 59.900.000 đồng vào tài khoản của bị cáo Đăng mở tại Ngân hàng TMCP Q (M1). Tuy nhiên, thực tế toàn bộ số tiền 59.900.000 đồng anh T chuyển khoản, bị cáo Đ không dùng để trả tiền mua hàng và công thợ mà dùng để chơi game hết và Ngân hàng TMCP Q cũng không bảo trì trong thời gian nêu trên.
Hành vi của bị cáo Mai Đình Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt được là 59.900.000 đồng nên bị cáo Mai Đình Đ đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Mai Đình Đ là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường hết số tiền đã chiếm đoạt của bị hại, và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng dưới khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề dân sự: Bị cáo Mai Đình Đ đã đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạn cho người bị hại là anh Trần Công Anh T. Anh Trần Công Anh T không có ý kiền gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật:
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 là công cụ, phương tiện bị cáo Mai Đình Đ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí:
Bị cáo Mai Đình Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Mai Đình Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào Điều 38; điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Đình Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, màu xám, dung lượng 64GB, bên trong điện thoại có số IMEI: 35922806646617, đã qua sử dụng (được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3.1906625)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 13/YCN/2025 ngày 22/10/2024).
3. Án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Mai Đình Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Mai Đình Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Công Anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Mai Đình Đ có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| KT. CHỦ TỊCH THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |
Bản án số 245/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 245/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Mai Đình Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ vào Điều 38; điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Mai Đình Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
