|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 04/12/2024.
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Bích Phượng
Ông Lê Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 606/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, Tiền Giang
- Bị đơn: Lê Minh N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn xin ly hôn ngày 18/9/2024 và biên bản hòa giải ngày 31/10/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Chị và anh Lê Minh N chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào năm 2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N nhậu thường xuyên, có lúc anh N đi nhậu cả đêm không về, anh N còn đánh bài, ngoại tình với người phụ nữ khác. Nay chị không còn tình cảm với anh N nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung tên Lê Hoàng B, sinh ngày 17/3/2012. Hiện nay chị đang nuôi con chung. Nay chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2024, biên bản hoà giải ngày 31/10/2024 bị đơn anh Lê Minh N trình bày:
Anh thống nhất lời trình bày của chị H về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay anh không đồng ý ly hôn do anh còn thương chị H.
Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung tên Lê Hoàng B, sinh ngày 17/3/2012, hiện nay chị H đang nuôi con chung. Nếu Tòa án giải quyết cho anh và chị H ly hôn, anh đồng ý để chị H tiếp tục nuôi cháu Lê Hoàng B, anh không cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa: Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh N, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh N vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn, đồng ý để chị H nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã chấp hành đúng quy định về tố tụng dân sự. Đối với đương sự thì nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Lê Minh N. Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng B, sinh ngày 17/3/2012 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:
[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xác định quan hệ tranh chấp: “Ly hôn' thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H, xét thấy:
Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Lê Minh N chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị H và anh N trình bày thống nhất với nhau thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N nhậu thường xuyên, có lúc anh N đi nhậu cả đêm không về, đánh bài, ngoại tình với người phụ nữ khác. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh N, anh N không đồng ý ly hôn do còn thương vợ.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà anh N thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng như các bên trình bày, anh tha thiết được đoàn tụ nhưng chị H không đồng ý, anh cũng không đưa ra được giải pháp nào để vợ chồng đoàn tụ, Mâu thuẫn giữa chị H và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, khả năng đoàn tụ là không có, nhằm để giải phóng tình cảm cho nhau, Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị H và anh N có một con chung tên Lê Hoàng B, sinh ngày 17/3/2012. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, cháu B có nguyện vọng được sống với mẹ. Tại phiên toà anh N đồng ý để cháu B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự ổn định, không làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Hội đồng xét xử giao cháu B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Do chị H chưa có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của luật hôn nhân và gia đình
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh H.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Lê Minh N.
-
Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng B, sinh ngày 17/3/2024 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa yêu cầu.
Anh Lê Minh N được quyền đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị H đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011857 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang do đó xem như chị đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh H, anh Lê Minh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Thu Ngân |
Bản án số 245/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 245/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn. NĐ: Nguyễn Thị Thanh H - BĐ Lê Minh N
